Cuối mùa thu , Gia Điền mang đến cho tôi quyển Đặc San Nguyễn Du 2006 lấy tên “Ngày Hội Ngộ” do một nhóm các bạn cựu học sinh đang sống ở Hoa Kỳ thực hiện.
Cầm trên tay quyển Đặc san chỉ mới lướt qua mấy trang đầu, tôi đã cảm
thấy vừa ngạc nhiên vừa thích thú: Ngạc nhiên vì ở đất Mỹ xa xôi mà các bạn còn thực hiện được “nội san” về trường lớp, bạn bè, thầy cô cũ mà ở quê nhà chúng ta chưa làm được. Thật đúng là “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”. Thích thú vì càng đọc càng thấm thía về tình bạn bè, nghĩa thầy cô trên từng trang giấy. Bao nhiêu kỷ niệm vụt trở về trong ký ức và sống lại nguyên vẹn như thuở nào.
Tôi vào trường Trần Lục năm 1967, học lớp thất 4 . Ngày ấy các lớp học
còn được định danh theo số thứ tự đếm ngược từ lớn đến nhỏ: thất, lục, ngũ, tứ, tam, nhị, nhất. Trường mình lúc ấy chỉ có bậc trung học đệ nhất cấp (cấp 2 bây giờ) và thêm 2 lớp đệ tam. Trường chỉ dạy buổi chiều vì buổi sáng là của trường tiểu học Đồ Chiểu. Mỗi năm trường tuyển 4 lớp mới (khoảng hơn 200 học sinh). Trường tuy nhỏ nhưng thí sinh dự tuyển rất đông, do ở vị trí khá thuận lợi (khu Tân Định) nên việc “ vượt vũ môn”cũng chẳng dễ dàng gì, học sinh phần đông ở quận I, quận 3, Phú Nhuận, và có cả ở Tân Bình, Gò Vấp và các tỉnh về học.
Sau nhiều năm “ăn nhờ ở đậu” học sinh trường Trần Lục được chuyển về
cơ sở mới ở Cư xá Bắc hải và được mang tên Đại thi hào Nguyễn Du vào niên khoá 1971-1972. Kể từ đó chúng tôi được học chung với các bạn gái. Trường mới xây dựng trên một khu đất trống, chỉ vỏn vẹn hai khối nhà, nên những năm đầu thầy trò khá vất vả trong việc dạy và học, trong đó phải kể đến thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Ngọc đã bỏ ra rất nhiều công sức, từ việc vận động nhiều năm để có đất xây trường, rồi xin kinh phí của Bộ Giáo Dục để xây trường. Thầy vừa lo đối ngoại, đối nội mà vẫn không quên đứng lớp. Thầy dạy chúng tôi môn văn lớp 11 . Tôi còn nhớ rõ câu đáp của thầy Ngọc với lời băn khoăn của cụ Nguyễn Du là:
Hỏi : Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Đáp: Ai hay trăm rưởi năm sau đó Trần Lục sinh đồ khóc Tố Như.
Qua nhiều năm đi học ở trường Trần Lục, rồi Nguyễn Du, chúng tôi được
học với nhiều thầy cô. Lòng tận tụy yêu nghề của quí thầy cô là niềm khích lệ lớn lao để chúng ta hăng say học hỏi , Thầy cô của chúng ta đúng là “mỗi người một vẻ...” mà đến nay đã ngoài 50 vẫn còn đọng lại trong tôi.
Được vinh dự tham gia ban điều hành học sinh ngay từ niên khoá đầu tiên
của trường Nguyễn Du, tôi rất thấm thía tác dụng của các sinh hoạt hiệu đoàn ở trường chúng ta lúc ấy. các sinh hoạt văn nghệ, báo chí, học tập, cứu trợ nạn nhân do thiên tai hay chiến tranh, đã kết chặt anh em chúng ta lại với nhau, mà có lẽ tác dụng của những sinh hoạt này đã tạo cho chúng ta sự tự tin cần thiết trong đời sống, biết phản ứng linh hoạt trong mọi tình huống khó khăn và chắc rằng ảnh hưởng của nó vẫn còn trên từng trang giấy của quyển “Đặc san” này…
Càng đọc những bài viết của các thầy cô và của các bạn trong Đặc San tôi
cảm thấy thời gian đọng lại và không gian gần lại. Cảm xúc gần gũi như về trường của các bạn ở xa, rồi chuyến đi thăm thầy cô của các bạn thật đáng quí biết bao. Người ta cho rằng với các phương tiện truyền thông hiện đại, con người luôn ở bên nhau, nhưng thưa các bạn tôi thấy những phương tiện này cũng chẳng có tác dụng gì nếu ở đó ta không có chân tình. Tôi xin chia xẻ những ký ức của thầy Mậu và cảm xúc “chính luận” của thầy Toàn. Chúng tôi được học thầy Toàn trong sinh hoạt hiệu đoàn, được thầy cố vấn về báo chí, tôi có đến nhà thầy để được chỉ bảo khi chuẩn bị ra đặc san “Tố Như” mùa xuân Nhâm Tí 1972. Nhà thầy ở đường Trương Minh Ký Gia Định (nay là đường Lê văn Sỹ) , Thầy nói chuyện với chúng tôi khá lâu về cái tâm của người làm báo (lúc ấy thầy đang viết cho báo Sóng Thần…) và thầy còn nhấn mạnh triển vọng của lớp trẻ chúng ta khi hoà bình được lập lại.
Ba mươi bốn năm sau đọc phục hồi đạo lý của thầy Đỗ Quí Toàn, tôi thấy
những điều thầy viết rất thời sự. Đây là những điều cô đọng lại của phương đông và đó chính là bản sắc của dân tộc Việt Nam chúng ta trong thời đại bùng nổ thông tin này. Nho giáo trong những năm qua đã có lúc có nơi bị quên lãng, bị cho là cổ hủ lạc hậu để rồi xã hội không cho đó là những chuẩn mực để xây dựng con người. Thời gian đi qua, những hệ lụy đã xảy ra . Hôm nay nhìn vào sự thật chúng ta thấy quá trình Tu-Tề-Trị-Bình cần phải là chuẩn mực cho việc xây dựng con người và những phương châm như “dân vi quí xã tắc thứ chi, quân vi kinh” hay “ văn dĩ tải đạo” … của nền luân lý Khổng Mạnh, không những không cổ hủ mà ngược lại… Khi được tham gia vào công việc vận động toàn dân xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, hiện nay tôi càng cảm thấy đây là những vấn đề rất mới, thậm chí rất “nóng” .
Đêm qua tôi đã thức khuya hơn để đọc hết Đạc San Ngày Hội Ngộ Của các
bạn cựu học sinh trường Nguyễn Du gởi tặng. Bao nhiêu kỷ niệm tràn về. Tôi đã sống lại những ngày còn đi học dưới mái trường Trần Lục-Nguyễn Du.
dòng này gởi đến các bạn cựu học sinh như một lời cảm ơn chân thành nhất.
Cám ơn quí thầy cô và các bạn! Chúc mọi người những điều tốt đẹp nhất!
Sàigòn, tháng 10/2006 Đinh Gia Thiết
Tái Bút:
Trong bài viết “Nguyễn Du ngày Xưa” của bạn Nguyễn Thị Hồng Thư có nhắc đến bạn Thịnh đạt giải nhất thi hung biện năm ấy. Hiện nay bạn Thịnh là Phó Giáo Sư/ Tiến Sĩ Đỗ Huy Thịnh, Chủ tịch Hội nghiên cứu và giảng dạy Anh ngữ TP Hồ chí Minh. Giám Đốc trung tâm anh ngữ SEAMEO (35 Lê thánh Tôn QI TpHCM) xin thông tin để bạn được rõ.