Nghe thiên hạ nói nhà hàng này bán món chả cá thuần túy, đặc sản thứ thiệt, cả bọn bầu đoàn thê tử kéo đến ăn cho biết. Buổi trưa, trời nóng như muốn luộc chín mọi người. Quạt máy ba bốn cái, bay vèo vèo, cái liếc qua cái ngó lại mà sao trong phòng ăn vẫn nóng hâm hấp. Tôi tưởng tượng, giá có vài khúc mía róc sạch vỏ để trên bàn thì sẽ có cái món mía hấp thiên nhiên. Tội nghiệp mấy miếng chả, nhỏ xíu, teo tóp, nằm trong chảo dầu, chỉ toàn là dầu, chờ đồng minh – không có không được như rau thì là, hành chẻ, bún, và mắm tôm – nằm chịu trận cho đến khi được ... hóa kiếp. Trời nóng, cái lò than trên bàn càng làm nóng thêm, và khẩu vị hình như ít ngon đi một chút. Vậy mà, thiên hạ ở mấy bàn chung quanh vẫn chén tỉnh bơ, cụng ly hò hét ồn ào cả một góc quán. Cứ cởi veston máng ghế, xăn tay áo chemise, và vắt cravate ngược lên vai thì đến mấy cái lò than hay mấy chén mắm tôm vẫn chấp như thường (con nguời cũng hay, có thể thích nghi với mọi hoàn cảnh và mọi thứ ở trên đời). Cũng may là ông Lã Vọng không ở quanh quất nơi thiên hạ đang nhậu nhẹt ăn uống, nếu không chắc ông cũng cảm thấy tủi thân. Kể chuyện đi ăn chả cá Lã Vọng cho nhỏ em khác họ nghe – em khác họ nên xa lơ xa lắc quơ ba sào chưa đụng, nhỏ em cao hơn tôi đến gần một cái đầu, và là dân Bắc kỳ mười chín nút thứ thiệt. Nhỏ em cười ruồi, biểu, Ha! ông Lã Vọng ngày xưa đi câu là để chờ thời chờ vận, suy gẫm chuyện đời thế cuộc, hay là để thấm cái tình đời thay ... đỏ đổi xanh, chứ cái lưỡi câu của ổng ngay đơ thì làm gì có cá để làm chả! Em, vậy mà nói chuyện nghe chí lý vô cùng. Thì ra nhỏ em này còn rành hơn tôi về giai thoại ông Khương Tử Nha đi câu chờ thời trong truyện Phong Thần. Tôi biết nhà hàng này thuộc loại lừng danh, nói là trên toàn thế giới cũng không ngoa, cho đến dân bên Tây bên Tàu còn đến ăn ào ào. Trước đây tôi cứ thắc mắc, không biết ai đã có cái sáng kiến độc đáo đặt tên món chả đến hay. Biết ra Lã Vọng chỉ là tên gọi của thương hiệu, không phải là một loại chả. Ông Tử Nha có thể tạm ngủ yên được rồi.
Thông thường, con dế bị lũ trẻ bắt vì tiếng gáy. Còn ở trên đời này cũng có khối người sống vui sống khỏe chỉ nhờ vào cái tên. Chuyện ăn uống hôm nay, tôi không nghĩ vậy. Hôm nay chắc là không gặp may, có lẽ nhà hàng bắt nhầm mấy con cá Lăng … mắc cạn, nên chả cứ dai và cứng như khô cá Hố bị phơi nắng mười ngày trước khi mang đi chiên.
Lần đầu tiên được đến thăm xứ ngàn năm văn vật. Nao nao, hăng hái như lúc nhỏ, đêm trước buổi tựu trường. Có đêm giật mình thức giấc, nghĩ đến băm sáu phố phường, đến cái hồ với truyền thuyết về Vua Lê Thái Tổ trả kiếm, hay là Văn Miếu với mấy mươi tấm bia khắc tên các ông Tiến Sĩ thời Trần, mà thao thức không ngủ lại được. Điều thích thú nhất là được nhìn tận mắt khung cảnh, nếp sống của cái thành phố còn giữ lại được vài nét cổ kính đó, những địa danh mà suốt mấy mươi năm chỉ được đọc qua sách vở, hay qua nhạc qua thơ.
Buổi trưa đi ăn chả cá. Buổi chiều, người dẫn lộ dưa đi ăn bánh tôm; bánh tôm Hồ Tây hẳn hòi. Một cơn mưa hạ vừa dứt, ráng chiều dậy lên một màu khó tả, mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy ở mấy xứ miền ôn đới. Đong đưa cạnh bờ hồ mấy cành liễu, thỉnh thoảng rắc vài giọt nước mưa còn sót lại, xua bớt đi cái nóng bức của buổi chiều. Hồ nhỏ hơn so với trí tưởng tượng của tôi nhiều. Nhưng đẹp quá. Nói chuyện với cô tiếp viên một lúc, tôi vỡ lẽ ra là cái hồ mà nãy giờ tôi ăn chắc là Hồ Tây, không phải là Hồ Tây, mà nó có cái tên còn hay gấp mấy lần: hồ Trúc Bạch. “Hồ Tây là cái bể nước to tướng ở bên kia anh ạ!”, cô ta chỉ tay về phía bên kia, nheo mắt cười. Dân nhà quê có khác, đi đâu cũng ngơ ngơ ngáo ngáo, như cuội. Thế là ngày mai lại phải đi dạo một vòng bên “cái bể nước bên kia” rồi, để xem có tìm được chút dấu vết gì như trong thơ ca hay không.
Bên cửa nhà em đào chợt nở Xôn xao ngõ phố dáng xuân về Thuyền ai lặng lẽ chờ trên bến Chiều phủ Tây Hồ mưa bụi bay (Dáng xuân, Vũ Ngọc Quyến)
Đó là chuyện thơ văn. Và là chuyện của mùa xuân. Hà Nội mùa này mồ hôi sâm sấp, bụi bay đầy phố, làm gì còn đào, và làm gì có “thuyền ai” đứng để chờ đợi ai. Tôi đến đây không phải mùa.
Nghe người ngồi bàn bên cạnh thì thầm, đủ nhỏ để mọi người ngồi chung quanh nghe thấy, bánh tôm Hồ Tây mà đi bán ở bên bờ Trúc Bạch thì thảo nào nó không xứng với lời đồn: vừa cứng vừa khô. Ừ, mà khô và cứng thật. Cho đến con tôm cũng nhỏ và ốm thảm thương. Không biết tôm cá ở Hồ Tây mấy năm sau này có bị lùng bắt nhiều hay không, mà cho đến tôm cũng ngại ngùng, không dám lớn. Con tôm, tính luôn cả cái kim và mấy cọng râu dài lòng thòng còn sót lại vẫn còn nhỏ hơn … con tép mà thằng em út thường hay dùng để làm mồi câu cá. Đang miên man nghĩ đến chuyện lấy bánh tôm câu cá, ở hồ Trúc Bạch, tôi giật nẩy mình bởi tiếng hét của một đám người. Đến mấy giây sau mới tỉnh hồn, không phải tiếng hét, mà đó chỉ là tiếng “hò” lấy trớn của người ta trong lúc cụng ly, trước khi ực trăm phần trăm. Kiểu cụng ly này có vẻ vui và hấp dẫn quá, dân nhà quê cỡ tôi chỉ mới thấy lần đầu. Mà dân mình có cái hay, là giờ nào cũng có thể cụng ly hò hét với nhau, và món ăn gì cũng có thể dùng làm mồi. Có người còn uống rượu đế nhấm với khế chua hay me sống chấm muối ớt, huống chi mấy món chả cá bánh tôm, có thể được xếp vào hạng mồi nhấm cao cấp.
Ngày tiễn nhóm xuôi nam, không nói gì, nhưng tôi đọc đuợc trong ánh mắt của cô hướng dẫn đoàn, mà đến bây giờ như vẫn còn văng vẳng cái giọng Hà Nội mười chín nút vừa trong trẻo vừa ấm áp của cô, “Không đâu anh, Hà Nội không chỉ có chả cá bánh tôm – dù ngon hay dở – hay những hàng ăn quán nhậu về đêm, chắc anh chưa có dịp nhìn những con đường mùa thu ngất ngây mùi hoa sữa, Hồ Tây bàng bạc sương mai, hay thật đơn sơ, một mảng sân vàng nắng …”.