Có lẽ không chỉ riêng tôi, người Việt Nam dường như ai cũng có ít nhiều
cảm xúc kỷ niệm về những ngày cuối năm, khi Ông Táo sắp về trời, năm cũ sắp
qua nhường cho năm mới Tết đến. Đã xa xứ hơn hai mươi năm, trong tâm trí tôi,
dường như nắng vàng hơn vào những chiều cuối năm, nhuốm màu vàng luyến tiếc
khi mình chợt nhận ra rằng ngày tháng trôi nhanh như thoi dệt cửi, mình sẽ già
thêm một tuổi, những ngày vui trong năm qua mau, trong khi những nổi buồn vu
vơ dường như còn đọng lại mãi tới cuối năm …















    Tuy vậy, trong cái buồn nhè nhẹ thi vị vàng vọt ấy, tôi cũng còn nhớ những
niềm vui rạo rực về những ngày tết năm xưa trong ký ức mình. Nhớ về những
ngày ở Huế, khi những cơn mưa phùn bất chợt rơi rơi, nhẹ nhàng như cái lạnh se
se của mùa Xuân báo hiệu ngày Tết sắp đến. Không khí trong nhà nhộn nhịp hẳn
lên, mọi người bắt đầu tất bật chuẩn bị đón mừng một năm mới hy vọng an khang
thịnh vượng hơn. Từ đầu tháng Chạp, mẹ tôi đã nhắc nhở người trong nhà mua
sắm quà Tết, các loại bánh mứt, đồ khô... Riêng về những chiếc bánh chưng bao
giờ cũng được mẹ tôi sửa soạn thật cầu kỳ, chu đáo. Vào khoảng 22 tháng Chạp,
mẹ cho người nhà lựa kỹ từng rá đậu xanh, cà vỏ, đem ngâm nước cho bung lớp
vỏ bên ngoài rồi đem sàng sẩy sạch sẽ. Từng bó lá chuối, lá dong tươi xanh mướt
chặt dưới bờ hồ quanh nội thành mà mẹ đã nhắn người quen đặt mua được rửa
sạch và xếp gọn gàng từng lớp. Cầu kỳ nhất là những ống nứa được ngâm trong
bể cạn vài ngày rồi tước chẻ thành sợi để gói bánh. Những rổ nếp ngon trắng phau
phau mà mẹ đã cất công đặt mua từ làng ngoại ô ngoài thành phố, những thớ thịt
heo tươi rói còn nóng hổi từ lò thịt mang về được ướp gia vị thơm phức… tất cả
làm mọi người cảm thấy nôn nao cho ngày thiêng liêng sắp đến. Khi mọi thứ cần
thiết đã được chuẩn bị sẵn sàng, cả nhà quây quần ngồi gói bánh tét bánh chưng
dưới mái hiên rộng. Thường thường vài chiếu trải dài mới đủ. Ngồi chiễm chệ
giữa đám đông là bác họ tôi, vị niên trưởng giỏi tay nghề được mời từ ngoài làng
họ vào, bác chỉ dẫn mọi người cách gói bánh tét tận tường, đổ nhân đậu nếp trên
những miếng lá chuối xanh cho cân đối, làm sao thắt dây lạt cho chặt … Đôi lúc,
ông bà cô dì chú bác tôi cũng ghé thăm dịp này, bà con giòng họ có dịp huyên
thuyên kể chuyện làng nước xưa rồi nay, nổi gian lao thời chinh chiến tản cư, rồi
chuyện vui thời bình nghe rôm rả vang cả nhà. Những “nghệ nhân” ngồi gói bánh
theo dây chuyền, những bàn tay thoăn thoắt trải lá chuối, múc đổ nếp đậu, bỏ
nhân thịt hay chay, cuốn lá rồi thắt dây lạc. Ông tôi thỉnh thoảng ghé xem, tủm tỉm
cười, đôi lúc thêm thắt vài câu dí dỏm cho câu chuyện làng họ thêm mặn mà tình
thân.  Đây cũng là dịp cho anh chị em tôi học hỏi làm bánh trái (và phá phách),
nghe chuyện giòng họ làng nước. Tôi tuy còn nhỏ, cũng được phép gói một vài
đòn bánh nho nhỏ, loay hoay mãi với phần buộc dây, mà lòng phập phồng lo sợ
đậu nếp xáo trộn tùng phèo trong đó, cả một công trình tí hon ngày Tết.

    Tiết Đông Xuân ở Huế, những ngày nắng ráo rất quí cho người nhà  phơi
dưa hành tỏi làm dưa món, rải trên những cái bội (thúng tre đan thưa) được đặt lật
úp ngoài sân vườn, tránh đàn gà mẹ con nhảy lên mổ phá. Lỡ có cơn mưa xuân
lất phất bất ngờ, người nhà khiêng những cái bội vào trong hiên nhanh gọn. Nếu
không đủ nắng phơi khô dưa cải, người nhà đặt những cái bội này trên những bếp
than hồng ban đêm để sấy khô, cho kịp món dưa không thể thiếu được của ngày
tết. Trong những đêm đông giá rét ấy, anh chị em ngồi quây quần suýt xoa quạt
nhúm bếp than, rồi thỉnh thoảng nhón tay ăn bốc mứt sấy khô, vừa vui vừa ngon
làm sao.

    Nhắc tới tiết lập Xuân, vào dịp này tôi thường thích được giao việc trảy lá
mai.  Tùy theo tiết trời mỗi năm, ngày trảy lá do các người kinh nghiệm cây vườn
quyết định, thường là ông ngoại hay cậu tôi, làm sao hoa mai hé nhụy vào chiều
ba mươi tết thì tuyệt đẹp. Tôi kê ghế đẩu kế mấy gốc mai vàng và mai tứ quí để
trảy lá. Khi rành tay, việc trảy lá cũng hứng thú rồi đâm ghiền, tôi thoăn thoắt leo
lên cây anh đào cổ thụ trước nhà lặt sạch lá già. Nhìn xuống sân nhà đầy lá, nghĩ
đến việc hốt lá cũng mệt đừ, thường thường làm vườn bỏ mứa kiểu “nữa chừng
xuân” là thói quen của con nít như tôi.

    Hãnh diện vì mình đã làm được việc người lớn, tôi thong thả đi tìm chỗ
đánh một giấc như ông cụ non, ngủ say hồi nào không hay. Đến khi tỉnh dậy thì
trời đã chập tối, nhìn xuống bếp, tiệc gói bánh đã tàn, người nhà đang chuẩn bị
thùng thiếc, chất gạch củi để nấu bánh qua đêm, thường thường khoãng 15 đến 20
tiếng. Đối với anh em tôi, đây là dịp vui hiếm có, ngồi chơi với củi lửa, nghe tiếng
than nổ tí tách, tìm hơi ấm trong đêm khuya se lạnh, và tuyệt nhất là chế những
món ăn dã chiến cạnh đống than hồng như bắp khoai nướng than, đậu phộng tráng
caramel đường đen dẻo kẹo, chè cháo … Các anh chị tôi và bạn bè là học sinh
Đồng Khánh, Quốc Học hay Hàm Nghi có dịp văn nghệ văn gừng đàn hát nhạc
xuân với cây guitar thùng đơn sơ. Có những bản nhạc xuân đi sâu vào lòng người
tuỳ vào thời điểm, bối cảnh quê hương … Chợt nhớ bản nhạc gây ấn tượng đậm
đà trong tôi vào giữa thập niên 1960s:








    Xuân đã về, xuân đã về, kìa bao ánh xuân về tràn lan mênh mông
    Trên cánh đồng, chim hót mừng đang thiết tha cùng đàn từng bay vui say
    Xuân đã về, xuân đă về, kìa ngàn hoa hé môi cười vui đón gió mới
    Xuân đã về, xuân đã về, ta hát vang lên câu ca mừng chào xuân ...
    (Xuân Đã Về - Minh Kỳ)

    Tiếng ca hát của đám thanh thiếu niên tươi vui yêu đời quyện với khói từ
nồi nấu bánh lan tỏa khắp sân vườn sau nhà rồi theo gió nhẹ lãng trôi đi vào
khoãng không mịt mù xa xa, nơi quê hương đang còn một thuở thanh bình…

    Đêm càng về khuya càng lạnh, đám trẻ thưa thớt dần, công việc chêm củi
lửa cũng chểnh mảng, người lớn như các cậu chú tôi bắt đầu tham gia cáng đáng
trực chiến nồi bánh chưng bánh tét qua đêm. Những câu chuyện chiến trường,
chuyện ma, chuyện đấu tranh sinh viên, chuyện tình … của người lớn làm đám
thanh thiếu niên hiếu kỳ nán lại thêm đôi lát. Lửa củi nấu nồi bánh bập bùng giữa
những tiếng thì thầm, rỉ rả suốt canh khuya …

    Giật mình trở về thực tại khi vài đợt gió giật mạnh làm máy bay chao đảo
lúc đang bay qua miền trung nước Mỹ, trên những cao nguyên đồi núi chập
chùng, mà lòng cứ ngỡ như mình đang bay qua vùng trời Tây Nguyên và dãy
Trường Sơn, lòng bồi hồi khi nghĩ đến cảnh tết tha hương, thiếu nồi bánh tét bánh
chưng, thiếu không khí nhộn nhịp chuẩn bị đón tết, nhớ làn khói bếp tỏa dần trong
nắng lam chiều …  Lòng tự an ủi rằng mình sẽ về đến nhà trong vài tiếng đồng hồ
nữa, nhưng không che kín nổi buồn tản mạn khi nghĩ đến hương khói ngày tết của
đại gia đình, của giòng họ, của quê hương dấu yêu với nhiều kỷ niệm êm ấm
ngày xưa …


    Nguyễn Minh Đạo
    Mùa Đông 2006