“Rằng xưa có gã từ quan
    Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau...”

    Xưa ở đất Sài Thành, huyện Bắc Hải có
    một chàng trai trẻ họ Từ, tên Thức. Từ bé Từ
    Thức nổi tiếng thông minh học mười biết một.
    Thường nhật khi mặt trời còn lấp ló sau hàng cây
    bã đậu. Chàng đã khăn gói chỉnh tề, tập đút túi
    quần, tay ôm quả dừa khô, không quên nhổ một
    bãi nước miếng ra bàn tay vuốt lên mái tóc cho
    bóng mướt, rồi leo lên lưng con ngựa sắt phi nước
    kiệu đến trường trước là đá banh, sau là dồi mài
    kinh nghiệm cùng bạn bè trang lứa. Ngôi trường
    làng nằm khuất dưới bóng hàng cây bã đậu xanh
    mươn mướt. Sau mỗi trận đá banh bằng quả dừa
    khô. Đám thư sinh hay kéo nhau ra ngồi nghỉ
    ngơi uống trà đá dưới bóng cây rợp mát.
Trưa nắng hè, hôi khét mùi nắng đến độ các cô gái trong làng khi đi ngang
qua phải bịt mũi bảo nhau: “Eo ơi, có con chuột chết đâu đây!” Mỗi tối khi
rỗi rảnh chàng thường tụ tập cùng đám bạn ôm cầm mà ngân lên những khúc
tình ca thống thiết bất chấp cà chua hư, trứng gà thối bay tứ tung qua vườn
nhà từ phía bên kia rào hàng xóm. Từ Thức vốn người tài hoa cộng thêm
“tam tòng, tứ đức” thuộc nằm lòng nên đến năm hai mươi hai tuổi sau khi thi
đỗ chàng được bổ làm quan huyện một vùng bên kia sông Sài Gòn.

    Trên đường đi nhậm chức, Từ Thức vô cùng hưng phấn tựa như chim
thoát khỏi lồng, cá rời khỏi chậu mà trở về với thiên nhiên hoang dã. Từ nay
chàng được tha hồ bay nhảy không phải đi thưa về báo, nhìn thân mẫu kè kè
cây roi mây bên hông mà ngâm nga bài răn Tam Tòng muôn thưở: “Taị gia
tòng mẫu, xuất giá tòng thê, lỡ thê có tử thì tòng... ái nữ!” Khi xe đi ngang
qua một ngôi chùa cổ danh tiếng. Người đi lễ tháng giêng đông mườm mượp,
khăn áo lượt là. Nam thanh nữ tú dập diù, chim bay bướm lượn nhởn nhơ
theo ngọn gió xuân. Vốn người thích danh lam, thắng cảnh. Từ Thức bảo nài
ngựa dừng chân bên đường để chàng ghé vào vãn cảnh chùa. Trong sân chùa
có trồng một cây Mẫu đơn quý chỉ nở hoa vào dịp tháng Giêng, hương thơm
ngào ngạt. Khách thập phương các nơi đến xem đều trầm trồ khen ngợi máy
ảnh bấm nháy lách tách, ai cũng muốn giữ cho riêng mình một bô ảnh kỷ
niệm bên gốc hoa tiên. Để bảo vệ loài hoa quý hiếm, khách đi lễ hội chỉ được
ngắm hoa, ai ngắt hoa sẽ bị phạt vạ rất nặng. Có một cô gái tuổi độ trăng
rằm, ăn mặc thiếu đuôi hở đầu nhìn rõ là con nhà nghèo thiếu vải, trang điểm
kỳ lạ mày xanh mỏ đỏ như người ở cõi trên đang tí tởn vịn vào cành hoa
cười xoè một nụ cho ông Tây bấm máy. Chẳng may nhành gãy hoa rơi. Đám
tuần canh vội bắt cô gái trói vào gốc cây đại già đòi tiền phạt vạ. Ông Tây
balô ngờ nghệch chả thấu nguyên do, đến khi tuần làng chỉ tay vào cái hầu
bao cồm cộm đeo trước bụng của ông và bảo: “mo-ni, mo-ni”, Tây vội vác
balô lẩn vào đám đông trốn mất!

    Từ Thức đi ngang liếc mắt thấy cô gái dung mạo lạ kỳ. Da vàng như
người trần thế nhưng mũi cao, môi cong, mắt thô lố, tóc vàng hoe râu bắp.
Biết không phải là người bình thường chàng vội lấy tay rẽ đám đông hiếu kỳ,
cởi ngay chiếc áo da hàng xịn made in Hồng Kông, bên hông Chợ lớn để
chuộc tội cho người con gái ấy. Người người đứng xem cảm kính ngài Tri
huyện là người hiền đức, biết ga-lăng phải cách. Cô gái nói với Từ Thức rằng
quê nàng ở xứ Cờ Huê, thấy cành hoa lạ nên muốn chụp hình làm mẫu trang
bìa cho Pa-ri bai-nai chẳng may lâm nạn. Nay gặp quân tử ra tay cứu vớt
mong sẽ có ngày được trả ơn. Nói xong nàng vội vã tạ từ rồi đi mất, Từ
Thức chỉ được biết nàng tên là Linda, họ Trang Đài.

    Từ ngày ấy Từ Thức lòng mãi vấn vương nhung nhớ đến người đẹp
Linda, cộng thêm cái “tứ đức: tửu, kỳ, thi, sắc” xưa nay đã khiến chàng xao
lãng việc công không ít. Việc quan bề bộn, sổ sách thuế má ngập đăng đẳng
mà Tri Huyện ngày ngày chỉ thích ra đầu ngã ba ông Tạ nhắm thịt chó, húng
liù và hát karaoke trong những quán nhạc ánh đèn mờ ảo. Đến một hôm, sau
khi ngà ngà bia rượu trở về công đường. Quan trên gọi Từ vào mà qưở
mắng. Từ Thức đập đầu vào gối mà than rằng: “Ta đây vốn yêu thiên nhiên,
thơ nhạc. Nay xá gì chút danh lợi phù phiếm mà phải chiụ nhục chôn mình
nơi chốn phù hoa này sao?” nói xong chàng tháo ấn tín, từ quan bỏ về quê
vui thú điền viên.

    Vốn yêu cảnh sông nước hữu tình. Từ Thức làm một cái nhà nho nhỏ
bên bờ kênh Sài Gòn. Chàng thuê một thằng bé oshin quê ở miệt Chắc Cà
Đao để phụ giúp việc nhà. Thường nhật, cứ đúng giờ Dần thằng bé oshin vác
gá mên đi ra đầu ngõ mua đồ ăn sáng cho chủ. Khi thì xeo thịt dê hun khói,
lúc thì đùi thịt cầy vàng nghệ, và không thể nào thiếu được bầu rượu đế cho
chàng xúc miệng sớm mai. Mỗi khi đi ngao du sơn thủy chàng luôn đem theo
mình một cái mai-cô-phôn made in Phù Tang, mấy quyển thơ của Dương thi
nhân giắt cạp quần lững thững vãn cảnh trông rất là thoát tục. Còn thằng bé
oshin theo sau hì hục đẩy cái xe ba gác chất đầy nước giải khát Hen-ni-ken,
Rét-bu, ông già chống gậy Gion-wác-cờ. Đến những nơi nước non kỳ bí như
ngã Năm Chuồng chó, ngã Bảy Chuồng Bò... không đâu không có bút tích
chàng phóng thơ đề vịnh:



    “Ngã Năm chuồng chó
    Vừa đi vừa ngó
    Ông anh cuối xóm
    Cô em đầu ngõ
    Sơ sẩy là chúng
    Tó ngay bóp đó
    Về nhà vợ mắng
    Rõ ngu hơn... chó!



    Tuy lòng đã quyết từ bỏ nợ công danh nhưng đường tình vẫn còn lưu
luyến nàng Linda năm nào bên cây Mẫu đơn nồng sắc. Một hôm, Từ Thức
lang thang ngơ ngẩn trước bến sông Bạch Đằng nhìn ra phía chân trời thấy có
một hòn núi trên có đám mây ngũ sắc hội tụ thành hình một bông sen cực kỳ
lộng lẫy. Từ vội chèo thuyền ra thì thấy đó là một quả núi với những tòa nhà
cao vút cả nghìn trượng đụng đến chín từng mây. Ở giữa quả núi có bức
tượng một tiên nữ áo xanh tay cầm bó đuốc giơ lên trời, đầu đội vương miện
nhọn tua tuả trông thật uy nghiêm lạ kỳ. Từ kinh ngạc bảo rằng:

    -Ta đã từng ngang dọc khắp chốn giang hồ, không đâu không có dấu
    chân sáu ngón lưu tích. Nay lại có trái núi này bỗng dưng hiện ra ngay
    mắt, há chẳng là non tiên dẫn lối đưa đường hay chăng?

Nói xong bèn đề thơ vịnh trên áo nàng tiên nữ rằng:

    Triều dương ngả bóng
    Aó nàng xanh xanh
    Tay cầm đùi chó
    Đầu đội bếp than
    Cùng ta nướng chả
    Say tít cung thang
    Xin nàng chỉ hộ
    Đường lên thiên đàng.

    Đề xong chàng đứng vuốt cằm ngắm nghía bút tích gà bới của mình ra
chiều đắc ý. Chợt thấy trên vách đá nứt ra một mảng lớn đủ để một người
chui vào. Chàng vén áo bước vào thì cửa hang đóng sập lại. Mở ra trước mắt
là một thế giới tân kỳ, nguy nga tráng lệ. Chàng chưa kịp định thần chợt thấy
có bốn cô tiên trắng, nâu, đen, vàng ăn mặc như con nhà nghèo thiếu vải
chạy ra khúc khích cười bảo rằng:

    -Xin mời chàng ghé qua tệ xá!

    Miệng nói tay lôi xềnh xệch vòng quanh các hang động. Cuồi cùng đến
cuối ngõ 42st, đẩy chàng chúi dụi vào một khung cửa son, trên treo tấm biển:”
Cầy Hương Động”. Trên tòa cao có bà tiên niên kỷ ngót ngoài bốn trăm,
dung mạo như búp bê chưng trong lò vi sóng đang ngồi bệ vệ trên cái giường
mút I-ta-ly trắng xoá. Từ Thức chưa kịp hoàn hồn thì bà đã đứng lên, chen
bụng với mông qua những cái ghế mát-xa, những tấm rèm phất phới, vỗ vào
vai Từ muốn té chúi nhủi:

    -Ối giời ơi, thì ra nà chàng đấy à! Gớm, con bé Ninda nhà tôi từ ngày
    có duyên kỳ ngộ với chàng ở đất Sài Thành về cõi tiên nó cứ ốm năn
    ốm nóc. Nó bảo tôi không nôi cổ được chàng về làm chồng thì nó sẽ
    ôm hũ mắm tôm thẩy vào tòa Bạch Ốc, rồi muốn ra sao thì ra.

Từ mừng khấp khởi chắp tay thưa rằng:

    -Tôi là kẻ dật sĩ. Chỉ một chiếc thuyền nan mà trôi dạt được đến
    phương này ắt hằn là có duyên tiền định. Nếu phu nhân không chê kẻ
    nghèo hèn Từ tôi xin được cùng Lin nương nương kết nghĩa đá vàng.

Bà tiên phất tay cười bảo:

    -Ối dào, chàng khéo vẽ chuyện nhún nhường. Ta đây có mắt tinh đời
    nhìn tướng chàng như thế thì Ngưu thần, Mã vệ còn phải kém xa.
    Thằng bé oshin gốc Mễ ta mới đuổi việc chiều qua nay có chàng ở lại
    đây giúp ta coi sóc việc cắt cỏ, lau nhà thì quả là đại phước!

    Bèn ngay đêm hôm ấy truyền mở đại lễ cho mời quần tiên đến dự.
Có người mặc áo dài gấm thụng, đầu đội nón bảo hộ cưỡi mô tô phóng từ
phương Bắc tới. Có người lái mẹc-xơ-đì bận bộ đồ da bóng lưỡng đi từ
phương Nam lên. Tiên đồng, Ngọc nữ xiêm áo lượt là dầu thơm phưng phức.
Yến tiệc linh đình all you can eat với đủ các món ngon vật lạ, bày mâm bằng
điã giấy vẽ hình long phượng, muỗng nĩa bằng nhựa xanh đỏ tím vàng trông
thật vui mắt. Từ hồ hởi ôm cây lục huyền cầm bấm cung đàn réo rắt mà hát
rằng:

    “Không cần biết em là ai
    Không cần biết em từ đâu
    Không cần biết em ngày sau..

    Chất giọng ngang phè phè như tiếng cưa gỗ của Từ Thức đã làm cho
những trái tim của các tiên nữ thổn thức, xót xa. Một tiên bà sồn sồn vừa sột
soạt hỉ mũi vừa quay lại bảo Ngọc nữ đang đứng bên lau nước mắt:

    -Đầy thấy người trần gian họ yêu chửa. Yêu thế mới gọi là yêu con ạ!
    Yêu mù quáng như thế thì bảo gì nó cũng theo. Nghe ta theo cái Linda
    về trần gian mà tìm chồng! Vớ phải mấy lão trên giời chúng ăn rặt toàn
    đào tiên, nó sống lâu phải hầu mãn kiếp!

    Từ ấy Từ Thức ngoài việc thay thế công việc trong nhà nấu cơm,
rửa chén cho thằng bé oshin người Mễ, chàng còn điều hành cả việc ngoài
sân như: cắt cỏ, sửa nhà, tối tối lái con Mẹc-xơ-đì đưa Linda đi sô ở vũ
trường, sáng sáng chở tiên bà đi binh xập xám, trưa về ghé chợ mua cà pháo
mắm tôm cho Linda, không quên hũ dưa mắm cho bà nhạc mẫu. Cứ như thế
mà loay hoay cả ngày chẳng lúc nào ngơi tay. Thấm thoát đã được hơn năm.
Hạ đến, thu sang, đông tàn, xuân tới. Nhìn cành đào hé nụ e ấp bên cửa sồ
kính hoa mà chàng đã cong lưng chùi sáng bóng chiều qua ngậm ngùi nói với
Linda:

    -Tôi xa quê nhà đã lâu, cha mẹ già chưa có được ngày phụng dưõng
    trong lòng nhớ nhung không ngớt. Tôi đã đem thân trâu ngựa ra hầu
    nàng lâu nay, dám xin thề tình mà thả cho tôi được tạm về thăm cố xứ.

Linda bùi ngùi giọt ngắn giọt dài ướt đẫm vai áo Từ lang:

    -Honey, một đi không trở lại. If you muốn go away thì cứ go. Me no
    care chỉ sợ đường trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi không được như
    xưa. You còn mắc mớ lòng trần nên me cũng không cản.

    Vài ngày sau nàng đưa cho Từ cái vé Air France và tập giấy cuốn lụa
hồng dặn chàng về đến nơi hãy mở ra. Chàng bước lên con chim sắt bay về
cố hương mà dạ cảm hoài.

    Chàng đi chỉ hơn nửa ngày là về đến nhà thì thấy vật đổi sao dời, nhà
cửa nhập nhoè Tây, Tàu lẫn lộn. Mái đình lăng tẩm chen chân với mái ngói
ngàn lẻ một đêm tất cả cùng tiến ra mặt đường xanh hồng nhức mắt. Thấy cái
mái cong cong sơn son thiếp vàng lấp lánh sau hàng cây Từ ngỡ là ngôi chùa
cũ vội ghé vào hỏi thăm. Đến gần thấy hai bên cửa treo đôi liễn:

    “Sống trên đời không ăn dồi chó
    Đem nửa cuộc đời quăng bỏ xuống sông”

mới biết đây là quán thịt cầy bẩy món. Từ gọi cho mình một bầu quốc lủi và
một đĩa cầy hương nhâm nhi ngắm người qua lại trên phố. Ngôi chùa cổ kính
ngày xưa đã được san bằng thay vào đó là nhà hát, khu vui chơi, khách sạn
năm sao. Người ra, kẻ vào tấp nập. Nam thanh đầu nhuộm tóc vàng ệch mốt
tài tử Hàn quốc đang thịnh hành, quần thụng đầy những túi và khoá lẵng
nhẳng như dây xích chó. Nữ tú áo hai dây, quần xệ rốn, môi đánh son thâm
sì sì kiểu "
tóc nâu môi bầm, bước ra ngoài phố đông..." như cái bài hát xập
xình đang được cậu chủ nhỏ tăng volume hết ga mà không cần phải xin phép
hàng xóm. Từ Thức bèn đem tên họ mình ra hỏi nhưng không ai biết cả.
Mãi sau có một ông lão chống gậy đi ra, ngẫm nghĩ mãi rồi nói:

    -Nghe nói có cụ tổ tam đại tên là Từ Thức. Cụ cáo quan về làng đến
    một hôm đi chơi rồi mất biệt . Không ai biết tông tích cụ nữa.

    Chàng buồn bã ra nhìn con chim sắt đã bay về phương xa. Nhớ lời
dặn của Linda chàng vội mở cuốn giấy lụa hồng ra đọc thấy có câu: “Một đi
không trở lại. Chịu chơi, chơi đến cùng!
” và kèm theo đó là giấy ly dị, giấy
nuôi con... với đầy đủ chữ ký của những tên chém mướn chuyên nghiệp tục
gọi là “Luật sư”. Từ hậm hực bùi ngùi đeo túi trên vai đi lang thang vô định
trên phố. Ngang qua một cái quán đèn đuốc tù mù, thấp thoáng bóng mỹ
nhân qua lại nhìn ngợ như Linda ma nữ. Từ đẩy cửa bước vào và từ đó
không bao giờ thấy trở ra nữa.

    Về sau, người đời đặt tên quán ấy là quán Lú.






    Nguyên Tú My
Hội Cựu Học Sinh Nguyễn Du