Tết năm nay đến muộn. Năm mới theo dương lịch đã đến nhiều ngày,
nhưng còn vài tuần nữa mới đến Tết. Trong lòng đã bắt đầu thấy khác, hơi nôn nao rộn rã. Đặc san Tết, báo Tết thường hay đăng ít nhất một bài về con vật tượng trưng cho năm mới sắp đến, theo kiểu “Năm Chó nói chuyện cẩu”, “Năm Mẹo nói chuyện “mèo””, hay “Năm Chuột nói chuyện … ăn thịt chuột”. Năm chó sắp qua, xuất hành cuối năm lần này có vẻ tôi vẫn chưa gặp may, có người xui … dại viết về con heo. Chỉ còn hơn một tháng nữa là đến năm Hợi. Nếu phải đi theo dấu của các bậc sư phụ, hay đàn anh đàn chị để viết một bài “Năm Hợi nói chuyện heo” thì khó quá. Khó như chuyện hăm hở mua vé máy bay về quê ăn Tết, mà ra đến phi trường sực nhớ cái passport còn bỏ quên ở đầu giường. Thôi thì tính lười thì cứ chọn chuyện dễ hơn mà làm.
Ngày Tết, chính là dịp để gia đình xum họp, để nhớ đến ông bà. Đến ngày
hai mươi ba tháng Chạp thì trong lòng đã nôn nao lắm, là ngày đưa ông Táo về Trời. Đến ba mươi Tết rước ông bà về “ăn” Tết cùng con cháu cho đến mùng ba. Nguyễn Bính tả một cái Tết của mẹ ông qua một bài thơ dài 52 câu, về những sinh hoạt của ngày Tết và nói về sự đảm đang của mẹ - một người mẹ Việt Nam. Bài thơ đơn sơ, không chải chuốt, đến nỗi có người phải kêu lên là sao giống những câu hò vè. Đây không phải là một trong những bài thơ xuất sắc của Nguyễn Bính, nhưng có ý nghĩa. Một bài thơ Tết.
Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều Sân gạch tường hoa người quét lại Vẽ cung trừ quỷ, giồng cây nêu … Nay là hăm tám Tết rồi đây (tháng thiếu cho nên hụt một ngày) Sắm sửa đồ lễ về việc Tết Mẹ tôi đi buổi chợ hôm nay … Xong ba ngày Tết mẹ tôi lại Đầu tắt mặt tối nuôi chồng con Rồi một đôi khi người giặm gạo Chuyện trò kể lại tuổi chân son.
(Tết của mẹ tôi, Nguyễn Bính)
Ở xứ ta, Tết không thể thiếu hoa Đào và nhất là Mai. Nhắc đến Mai,
Nguyễn Du có viết:
Nghêu ngao vui thú yên hà Mai là bạn cũ, hạc là người quen
Hai câu thơ dựa theo điển tích của Lâm Bô đời nhà Tống bên Tàu
(theo Mai Quốc Liên). Lâm Bô là người tài nhưng không ra làm quan và cũng không cưới vợ, mà xem Mai là vợ, hạc là con (Mai thê, hạc tử). Mai, hạc vì vậy là biểu tượng của sự thanh khiết, cao quý. Còn ở xứ người, ở vùng lạnh, Mai lại càng quý và hiếm hơn. Người Việt thường dùng Forsythia, một loại hoa vàng bốn cánh và có nhánh thẳng hơn, để thay thế hoa Mai.
Bình hoa ngày Tết của Hoàng Phủ Ngọc Tường có đủ loại, với đủ hương
và sắc: hoa Cúc, Phượng, Hồng, Lê, Ngọc Lan, và dĩ nhiên không thiếu Đào và Mai. Và có cả hoa một loài hoa dại: hoa cỏ may. Hoa đẹp, không nhất thiết phải là hoa quý, mà còn nhờ ở cách chưng và cắm. Hãy nghe Hoàng Phủ Ngọc Tường tả hoa Ngọc Lan, Mai và Đào ngày Tết:
Màu áo xuân nương rực rỡ vàng Nhởn nhơ cười đón ánh xuân quang Đêm qua mưa gió còn giăng mắc Vừa đến bên thềm xuân đã sang.
(Hoa của mọi ngày – Hoa Mai, Hoàng Phủ Ngọc Tường)
Lâu rồi tôi chẳng sao quên Mùi hương mái tóc kề bên năm nào Tiếc thương một sắc hoa Đào Bàn tay gió bấc vẫy chào cố nhân.
(Hoa của mọi ngày – Hoa Anh Đào)
Hoa lẩn trong cành chẳng thấy đâu Sao nghe rạo rực ý thu sầu Ta về vườn cũ tìm hoa rụng Gặp chút u hoài quên đã lâu.
(Hoa của mọi ngày – Hoa Ngọc Lan)
Tuy không có được những tiện nghi của thành phố, ăn Tết ở quê có cái
thú riêng, và rất đặc biệt. Về quê để được nghe lại mùi Tết quê, nhìn lại khóm chuối, vườn cây, hay một cách thật đơn giản để được nhìn lại một cánh đồng buổi sáng mênh mông sương khói.
Ưng về nhìn khói trên đồng Thương mùa hoa Cúc vàng trong mắt người Xa em thì đã xa rồi Cuối năm vẫn nhớ Tết hồi quê xưa.
(Nhớ Tết quê, Cao Vũ Huy Miên)
Ngày Tết không thể thiếu bánh tét, bánh chưng. Một trong những
“Bức tranh quê” của Anh Thơ đêm ba mươi Tết: gia đình quay quần bên nồi bánh chưng, mỗi người dõi theo một tâm sự riêng.
Quanh bếp ấm, nồi bánh chưng sùng sục Thằng cu con rụi mắt cố chờ ăn Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen nhức Bà lão ngồi tính tuổi sắp thêm năm.
(Đêm ba mươi Tết, Anh Thơ)
Chiều ba mươi Tết, Anh Thơ vẽ thêm một bức tranh quê về sinh hoạt
trong ngày Tết, và thân phận của người lữ khách buổi chiều cuối năm đang mơ màng mong giờ sum họp.
Trời lún phún mưa xuân đường các ngõ Lấm những bùn và đầy những người đi Trong vườn Đào đã nhiều bông nở đỏ Và đã nhiều nêu dựng khánh khua thi … Trên sông nước trong khoang thuyền chờ vội Giữa bọn người về Tết chuyện ba hoa Một lũ khách lạnh lùng ôm khăn gói Mắt mơ màng nghe tiếng pháo xa xa.
(Chiều ba mươi Tết, Anh Thơ)
Thơ xuân của Anh Thơ thường được tô điểm thêm bởi những giọt mưa
xuân. Từ “Ngày Tết”, “Chiều ba mươi Tết”, “Chiều xuân”, cho đến “Chợ ngày xuân”, trời cứ lất phất mưa. Anh Thơ mất đi, những giọt mưa xuân chắc cảm thấy lẻ loi khi nhỏ xuống đồng quê xứ Bắc.
Trong đồng hoa lúa xanh dờn và ướt lặng Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra Làm giật mình một cô nàng yếm thắm Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.
(Chiều xuân, Anh Thơ)
Thêm một bức họa của đồng quê Việt Nam. Đó cũng là khung cảnh của
đất nước trong những lúc tạm quên đi cảnh kẻ còn người mất. Thơ xuân không hẳn là thơ Tết. Mùa xuân ở đây có lẽ không vào mùa Tết. Thời tiết vào mùa Tết dù có lác đác đây đó vài giọt mưa xuân, thường ít có cái cảnh “lúa xanh dờn”. Và “tháng Giêng là tháng ăn chơi, . . .” thường là châm ngôn của những người ở thôn quê, có lẽ khó nhìn thấy một cô nàng yếm thắm đang cào cỏ ruộng trong những ngày Tết. Hay là cô nàng đứng đó để chờ ai? Nói về chuyện hò hẹn, ở đồng quê, Anh Thơ rất kín đáo và ý nhị. Hai câu cuối của “Đêm xuân”, hay về lời, và ý thơ cũng hay không kém.
Ngoài đồng vắng - trời đêm mà che nón! Có hai người đi lẻn tới nương dâu Và lại có cả một đôi đóm đóm Bay dập dìu như muốn phải lòng nhau.
(Đêm xuân, Anh Thơ)
Ở thế giới này sinh ra có phải chỉ để nhớ nhau đâu. Ấy vậy mà người ở
xứ này cứ nhớ đến người xứ kia, và họ nói đến nỗi nhớ nhiều nhất là vào dịp Tết. Xuân đã đem mong nhớ trở về, câu thơ ngắn của Nguyễn Bính thật gần gũi với tâm tư của người đi xa. Và cả người ở xa. Tết cũng là dịp, và trong nhiều trường hợp là “cái cớ”, để người ta nhớ nhau hơn. Người ở bên đông nhớ kẻ bên tây, em ở miền Trung nhớ anh ở miền Bắc, hay anh ở miền Nam nhớ em Hà Nội.
Anh hình dung giữa muôn hoa Mùa xuân diệu vợi chan hòa sắc hương Dịu dàng em - tiếng yêu thương Nhớ em đến cả nỗi buồn cũng thơm. Gửi anh một chút se se lạnh Anh nhớ hồ Tây đến nghẹn lòng Anh nhớ về em mà bạc tóc Mưa phùn Hà Nội mách em không?
(Tứ tuyệt, Trương Nam Hương)
Và người ở miền Trung lại nhớ kẻ ở Sài Gòn:
Có phải mùa xuân đang ở bên em Nơi có mặt trời và áo em rực lửa Cách mấy con sông, vùng quê náo em ở Có nồng nàn hơi ấm mùa xuân.
(Nơi ấy, mùa xuân, Giang Nam)
Tết vui, Tết nhớ. Điệp khúc Mai-Đào được nhắc lại, khi người ở Sài Gòn
nhớ kẻ ở Hà Nội. Nhìn Mai, ở miền nam, nhớ Đào xứ Bắc.
Mấy độ xuân về rất nhớ nhau Trông cành Mai liên tưởng cành Đào Mai vàng Đào thắm hai nơi ấy Hai sắc màu gốc có khác đâu. … Ta nhớ ai xin gửi mấy dòng Mối tình vương vấn nỗi chờ mong Tết này nhớ lắm trời Hà Nội Dẫu rét ngoài da vẫn ấm lòng.
(Tết này nhớ lắm trời Hà Nội, Bảo Định Giang)
Nguyễn Xuân Sanh … cắc cớ hơn, ngắm sớm đầu xuân mà nhớ trăng. Nếu sớm đầu xuân ở đây là ngày mùng một Tết thì nỗi nhớ của nhà thơ sẽ còn dài đăng đẳng và sâu thẳm.
Ngắm sớm đầu xuân mà nhớ trăng Chuyện xưa chuyện mới chẳng vui bằng Phút này chỉ thích xem hoa Cúc Rét mướt, cánh vàng giũ giá băng.
(Đầu mai, Nguyễn Xuân Sanh)
Xuân Diệu viết nhiều thơ tình, viết nhiều về tình yêu. Thơ xuân của
ông cũng không ngoài cái lệ này. Mùa xuân đến, xuân của đất trời hòa hợp với xuân sẵn có trong lòng.
Xuân của đất trời nay mới đến Trong tôi, xuân đến đã lâu rồi Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi Trong vườn thơm ngát của hồn tôi
(Nguyên Đán, Xuân Diệu)
Xuân Diệu thiết tha với cuộc sống và say đắm trong tình yêu. Đối với
Xuân Diệu mùa xuân không chỉ vào tiết Nguyên Đán. Xuân có thể là một ít nắng, là sương, hay một khoảng trời xanh để hở, vì xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng. Và Xuân Diệu kết luận: tình không tuổi, và xuân không ngày tháng. Một Xuân Diệu lúc đang xôn xao, hồi hộp, say đắm.
Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ Chim trên cành há mỏ hót ra thơ Xuân là lúc gió về không định trước.
(Xuân không mùa, Xuân Diệu)
Còn Tết của những người xa xứ? Đề tài nhớ quê hương vốn đã sáo mòn,
không còn mới mẻ như những năm người Việt ồ ạt rời bỏ quê hương. Dù vậy, đối với những kẻ không còn ở quê mhà, nhất là những người xa xứ mà không có ngày về, cái nhớ của những ngày giáp Tết làm cho những vần thơ Tết trở nên thấm thía đến nghẹn ngào. Không nhất thiết vì bài thơ thật xuất sắc, nhưng nhờ/vì hơi ấm mùa xuân ở xứ mình. Theo ngôn từ “mới”, đề tài nhớ quê hương vẫn còn cái tính … thời đại.
Năm tháng qua đi em nào hay biết Một sáng mùa đông chợt nhớ quê nhà Nhẩm tính những mùa trăng hờ hững trôi qua, Em nghe tiếng thời gian gọi Tết. … Tết ở quê em Chiều Âu Châu tuyết đổ Giao thừa là sáng sớm mù sương Em đang đi vội vã trên đường Xuân bỗng đến nghẹn ngào hơi thở. … Em ơi, sáng nay xuân trở lại Nhớ hương quê ngai ngái Cánh buồm, đất ruộng, dấu chân chim Tết ở xa hay Tết ở trong tim? Tuyết rơi trắng cả thềm Pháo bây giờ râm ran đua nổ Bên kia bờ nhớ thương Ơi Tết, ngàn thương nhớ!
(Dáng Xuân, chiều tuyết đổ, MT)
Tôi vừa nói một cách tản mạn, không đầy đủ, về mùi vị Tết bên đông,
Tết bên tây, để vui trong ba ngày Tết và cũng là một cách để nhớ về quê nhà trong mấy ngày sắp Tết. Và chắc chắn là không có tham vọng làm công việc của một người bình thơ văn, công việc đòi hỏi một cái nhìn bao quát, đầy đủ, và nghiêm chỉnh hơn. Xin nhường việc phê bình văn học cho những người chuyên môn.
Nhìn ra sân, không thấy Mai vàng và cũng chưa nghe màu gió Tết. Bầu
trời xám trắng có lẽ đang báo hiệu một cơn tuyết lớn.