Ngày hai mươi ba Tết mà ông xếp đề
    nghị tôi đi công tác xa, phải nói là chuyện hiếm
    hoi. Mà ổng nhất định người đi phải là tôi thì ông
    ta mới vừa lòng. Tôi nhủ thầm, sao không biểu
    mấy thằng Tây con đi cho rảnh việc, vì bọn nó
    có biết cái Tết là gì. Máu Á Đông trong người
    vẫn còn khá đậm, tôi không vui lắm khi phải đi
    xa lần này nhưng không tỏ vẻ không đồng ý.
    Nhất là đối với ông xếp lớn này. Cuối cùng tôi
    đành phải bỏ buổi họp mặt hằng năm với nhóm
    bạn người Việt và Tàu vào dịp Tết. Nhưng vẫn
    có được một điều an ủi nhỏ: lần đầu tiên tôi
    được đi Tàu, và lại vào dịp Tết.

    Cũng như thường lệ, đi công tác kiểu này vẫn là một vấn đề gần như
thủ tục và khá mệt nhọc. Sáng sớm xách túi đi, chiều tối mới về đến khách sạn,
chưa kể đến những bữa ăn tối với đồng nghiệp các nơi. Đến ngày thứ hai của cuộc
hội thảo, tình cờ tôi gặp lại một người bạn cũ đã hơn bốn năm không gặp. Chị học
trên tôi một lớp thời còn là sinh viên ở trường, và cũng là người sinh viên người
Việt đầu tiên học cùng khoa. Chị dễ tính, thoải mái, biết tôi nhỏ hơn đến ba tuổi,
nhiều lúc chị gọi tôi bằng “mày” và xưng “tao” như với một người bạn cùng phái.
Con gái thời đại quả có khác. Khác xa cái thời tôi còn học trung học, hầu như cả
lớp cùng cầm tinh con thỏ. Hai ngày trước khi trở về xứ, tôi điện thoại đến văn
phòng đại diện của hãng máy bay để xác định chuyến bay trở về. Thật không
may, vì một lý do gì đó chuyến bay bị hủy bỏ. Thế này thì đành phải ăn Tết ở
Tàu thật rồi. Cũng may là tôi gặp được bà chị này, có thể là bạn đồng hành trong
dịp này.

    Việc công đã xong, tôi phải chờ đến hai ngày mới được phép về nhà vì
không có chuyến bay. Theo sự chỉ dẫn của nhân viên khách sạn, chúng tôi quyết
định thực hiện một chuyến du lịch ngắn bằng xe car. Bến xe khá vắng khách trong
mấy ngày sắp Tết. Không tìm thấy bảng thông báo, và cũng không thạo tiếng địa
phương, bọn tôi đi một vòng tìm văn phòng hướng dẫn. Bên trong nhà chờ đợi
cũng chỉ lưa thưa chừng hơn mười người, đang lơ đãng ngồi nhìn ra đường. Trong
quầy chỉ dẫn có hai cô gái còn khá trẻ, mặc đồng phục xanh. Tôi và bà chị đứng
xếp hàng đã hơn năm phút. Bắt đầu thấy sốt ruột, nhất là cô Tàu trẻ vẫn tiếp tục
nói điện thoại một cách thản nhiên như dưới mắt không người. Cô thứ hai vẫn say
sưa tìm kiếm một tài liệu gì đó trong một cuốn sổ dày cộm. Bà chị biểu: “Hay là
mày đi hỏi thử xem, hỏi đi!”. Tôi ngại quá, vì thấy ai cũng bận rộn việc nhà nước,
nhưng cũng phải làm gan. Vừa bước đến gần cái quầy dịch vụ, chưa kịp nói gì, cô
thư ký đã xổ ra một tràng cái thứ tiếng mà tôi không hiểu đến một chữ. Nhìn bàn
tay cô vẽ và vẻ mặt không mấy thân thiện đó tôi đoán là cô ta ra lệnh tôi cứ kiên
nhẫn yên chí mà chờ thêm chút nữa. Và cô ta tiếp tục nói điện thoại. Nhìn cô nói
cười thoải mái với cái điện thoại mà cái bụng tôi nó sôi sùng sục. Không hiểu tiếng
Tàu, nhưng tôi đoán có lẽ cô không nói chuyện công. Mười lăm phút sau, tôi
không nhẫn nại thêm đuợc nữa. Tôi xông đến quầy tiếp khách: “Xin lỗi cô, tôi
muốn biết là chuyến xe đi tham quan vùng phía đông của thành phố đến mấy giờ
mới có”. Cả hai hơi đổi sắc và trố mắt nhìn bọn tôi không chớp mắt. Thoáng giật
mình, tôi nghĩ tiếng Anh của mình nó tồi đến mức này sao! Tôi nhắc lại câu mình
vừa nói, nhưng cố uốn lưỡi cho rõ ràng và giống Tây hơn một chút. Đúng là cái
số được trời ngó lại, cô gái lúc nãy khoát tay ra lệnh tôi phải vào hàng vội buông
điện thoại xuống và bắt đầu giải thích cho hai chị em tôi. Cô nói tiếng Anh khó
khăn, thiếu đầu thiếu đuôi, nhưng có vẻ rất tận tâm. Cuối cùng cô ta tặng luôn cả
cái bản đồ nhỏ, có lẽ để an ủi bọn tôi đã lỡ chuyến xe, khoảng mười phút trước.

    Đi ra khỏi cửa của nhà đợi mà tôi vẫn còn thấy ấm ức. Tôi tiếc. Giá mà bà
chị tôi có được mái tóc hoe vàng hay cặp mắt xanh như mấy cô đầm thì có lẽ bọn
tôi không phải đứng nhìn cái cảnh bấc đắc dĩ vô tích sự đó và không bị trễ xe. Ừ,
mà nếu không phải đợi chờ thì tôi đâu có dịp đứng nhìn mấy cái miệng xinh xắn
trong lúc … tán dóc như vậy. Bọn tôi quyết định đón taxi đi du ngoạn, đi loanh
quanh thành phố một mình, không nhờ người địa phương chỉ dẫn. Đi phố chán
chê, buổi chiều hai chị em đi dọc theo bờ sông Hoàng Hà và nảy ra ý định dùng
bữa ăn tối trên thuyền. Những năm đó nước Tàu đã bắt đầu mở cửa được vài
năm, các thú tiêu khiển, dịch vụ dành cho du khách cũng trở nên phong phú hơn.
Trong khoảng thời gian chừng trên dưới hai giờ, khách trên thuyền vừa ăn uống
vừa có thể ngắm quang cảnh hai bên bờ sông và thành phố về đêm, phải nói là thú
vị. Loại thuyền này cũng tương tự như loại bâteau mouche đưa du khách đi lại
trên đoạn sông Seine ở trung tâm Paris về đêm, vừa ngắm cảnh vừa uống rượu
vang trắng nhấm tôm hùm, vừa có thể đập muỗi miễn phí để giải trí.

    Bọn tôi xuống thuyền thì đã quá mười giờ đêm. Xe taxi khá hiếm vào giờ
đó, người đứng chờ thì đông. Cảm thấy sốt ruột, hai chị em tôi đi bộ dọc theo con
đường cạnh bờ sông để hy vọng có thể tìm taxi dễ hơn. Một chiếc taxi ngừng lại,
nhưng tôi từ chối vì người tài xế đòi tiền cước mắc đến gần mười lần so với giá
tiền phải trả vào ban ngày. Bọn tôi đi một vòng khoảng nửa giờ, trở về điểm cũ
vẫn chưa đón được xe vừa ý, vừa giá. Không biết bà chị có sợ hay không, chứ tôi
thì đã bắt đầu thấy lo ngai ngái. Lo nhất là vấn đề an ninh và không biết rành
đường phố ở đó. Tôi cố đùa: “Không sao, không tìm được xe thì em chạy bộ, dắt
chị chạy theo”. Bà chị vừa cười vừa mắng, miệng méo xệch, có lẽ cũng vừa rủa
thầm trong bụng. Số người đứng chờ vẫn còn đông lắm. Một cô gái trẻ, dáng thon
và tóc uốn quăn rất mốt từ bến tàu đi lại phía bọn tôi đang đứng. Cô gạ gẫm: “Giờ
này ông bà không đón đuợc xe với giá … quốc doanh nữa đâu, nếu muốn đi về thì
tôi có xe”, cũng với một giọng tiếng Anh giống như cô gái tôi gặp vào buổi sáng,
lừng khừng, khó khăn. Hai chị em tôi đồng ý, sau khi ngã giá. Tiền xe rất phải
chăng, chỉ mắc gấp ba lần giá bình thường. Cô gái hất mặt ra hiệu cho một người
thanh niên đứng chờ cách đó không xa. Người đàn ông mặc áo da màu đen, ốm,
vẻ mặt lầm lì, móc vội chùm chìa khóa trong túi và ra dấu chỉ cho bọn tôi biết
chiếc xe của anh ta. Chiếc xe cũ đến thảm thương, một loại xe thùng dùng để chở
hàng hóa phế thải, nhưng cũng may là có được hai chỗ ngồi ở phía sau.

    Người đàn ông rồ máy và phóng xe như bay qua các đường phố lạ hoắc,
vào giờ đó đã vắng người. Đã ở thành phố đó gần một tuần, nhưng tôi không nhớ
là mình đã đi qua bất cứ một con đuờng nào mà anh tài xế lái qua. Và tôi lại đâm
ra lo. Tôi suy nghĩ thật nhanh  hình như chưa bao giờ mấy cái nơ-ron còn sót
lại trong đầu lại chịu khó chạy nhanh đến như vậy  nghĩ đến mái tóc uốn quăn
và cái quần Jean bó sát của cô gái, cái tướng ốm o với cái áo da và vẻ mặt lầm lì
khó thông cảm của người đàn ông, cái lo của tôi biến thành nỗi sợ. Mấy đoạn
phim về chuyện bắt cóc người hay những tin mà báo chí nói về chuyện hành hung
cướp của cứ quay cuồng trong đầu. Càng suy nghĩ, tôi lại càng thấy anh ta chạy
nhanh hơn và thời gian trôi qua chậm như cái ngày tôi đứng chờ … “người quen”
lần đầu tiên ở cổng trường. Khắc khoải làm sao. Anh tài xế hết quẹo phải lại đến
quẹo trái, vẫn chưa thấy đến nơi. Tôi đã nghiên cứu bản đồ của cô gái cho trong
lúc đứng chờ xe, đường không thể xa đến như vậy. Lại nghĩ đến cô gái người Tàu,
lúc đó đang ngồi kế cạnh người lái xe, hình như khuôn mặt và giọng nói của cô gái
tôi đã từng thấy và nghe qua ở đâu đó. Cố nặn óc, tôi vẫn không nhớ ra. Tôi quay
qua nói và dặn nhỏ bà chị: “Em thấy hai người này lạ quá, coi chừng họ muốn
chở mình tới chỗ vắng để trấn lột; nếu thấy gì khả nghi hay họ đưa đi xa quá thì
cứ mở cửa xe và nhảy bừa xuống đất”. Rõ ràng phim trinh thám đã ăn sâu lắm
rồi. Bà chị gật gật, nhăn nhó gắt: “Sao lúc nãy không chịu đi taxi, để bây giờ lại
bày cho lắm trò!”. Thật ra tôi lo cho cái mạng của bà chị và tôi thì nhiều, chứ
người ta có “trấn” tôi mạnh đến mức nào cũng chẳng “lột” được bao nhiêu, trong
túi tôi không còn được đến một trăm đô la, và không có đồng hồ hay vật quý, thẻ
tín dụng thì xài đã sắp hết tiền. Bà chị tôi cũng thuộc vào hạng tu tỉnh làm ăn giỏi,
bị dị ứng với mấy cái hột đá lóng lánh, trong hơn mắt mèo và mắc hơn vàng mà
các bà các cô thường ưa thích, hai bàn tay của bà chị cũng trắng như hai bàn tay
tôi. Đầu óc tôi xuôi ngược những câu hỏi và giả thuyết, phải đối phó thế nào trong
trường hợp nào…

    Tôi thở phào. Chưa bao giờ tôi có được cái cảm giác lâng lâng, nhẹ nhõm
như vậy. Thật là “chuyện không có gì mà ầm ĩ”. Tôi thấy mình là người hạnh
phúc nhất đời mặc dù phải trả tiền xe với cái giá gấp ba lần giá bình thường.
Người tài xế ngừng xe ngay trước cửa khách sạn của bà chị tôi. Khách sạn nơi tôi
ở chỉ cách đó hai ngã tư đường nên tôi từ chối không để họ đưa về đến tận nơi.
Chỉ cần khoảng năm phút đi bộ là đến nơi. Lần đầu tiên người thanh niên cười với
bọn tôi, một nụ cười thật dễ dãi, thật thà. Cái lạnh ở Thượng Hải vào mùa Tết
làm tôi bớt căng thẳng, thấy thoải mái, dễ chịu. Trí tưởng tượng quá phong phú
đến độ méo mó của tôi đã làm khổ mình trong suốt thời gian ngồi trên xe của anh
chàng mặc áo da.

    Ở thành phố đông đúc này, đi tìm người quen đã khó, người xa lạ dễ gì gặp
nhau. Thế mà tôi gặp cái người con gái chưa quen đó đến hai lần, ở hai nơi, trong
cùng một ngày. Về đến cửa phòng, tôi mới nhớ ra cô gái đã đưa hai đứa tôi về
khách sạn chính là cô gái Tàu nói điện thoại ở bến xe lúc sáng.

    Xem ra, cái bệnh “con lợn có béo thì lòng mới ngon” của tôi còn nặng hơn
cả bệnh cô gái người Tàu vào buổi sáng ở bến xe. Hôm đó là ngày hai mươi chín
Tết, chỉ còn một ngày nữa là sang năm Hợi. Năm Hợi của mười hai năm trước.
Nghĩ đến cô gái và nhớ lại nụ cười của người thanh niên lái xe, tôi hơi giận mình,
và quên hẳn là giờ đó, ở quê nhà, má và mấy em tôi đang quay quần bên nồi bánh
tét chờ bánh chín.





    Thuyên Ly
    Tháng Giêng 2007
Hội Cựu Học Sinh Nguyễn Du