Hội Cựu Học Sinh Nguyễn Du
    Nơi em qua gió Bấc đã thay mùa
    Chân rạ mới se lòng mong lúa ấm
    Những lá vàng rơi càng khô càng thắm
    Lá rơi hoài có trút xuống nơi em?
                           (Bằng Việt)

       Bấc về, xuân đến. Buổi chiều ngày hai mươi bảy Tết sắp tàn. Ở vùng núi, nắng
chưa tắt hẳn thì trời đã se se lạnh. Nắng đã xiên lắm rồi, những tia nắng cuối ngày len qua
hàng cây Bằng Lăng hai bên đường mà mùa này chỉ còn lá với lá, mấy chòm bông tím
ngăn ngắt đã tàn từ mấy tháng trước. Loại cây có thân nhẵn bóng và hoa màu tím, mau
tàn, mọc khắp nơi. Đó là những gốc Bằng Lăng còn sót lại sau khi người ta phá rừng làm
rẫy. Thỉnh thoảng dân chúng trong vùng mang thêm một số cây nhỏ trồng dọc theo hai
bên đường. Nó đạp chiếc xe cũ trên đường về nhà, mừng như vừa bắt được của rơi, mơ
hồ nhớ lại lần đầu tiên được ngồi trên chiếc xe đạp mới lúc nhỏ, phần thưởng của ba nó
lúc vừa sáu, bảy tuổi.

       Một tuần trước, chiếc xe đạp duy nhất của nhà nó sau một đêm ngủ say, đã không
cánh mà bay. Cái ấp nhỏ và sống biệt lập này, thiếu tất cả các phương tiện di chuyển,
chẳng có chuyện gì có thể giấu được thiên hạ. Chuyện trong nhà, thoáng một cái là có
thể bị bày ra ngoài xóm, vậy mà chẳng ai biết chiếc xe đạp đã chạy đi đường nào. Cả nhà
như ong vỡ tổ túa ra đi tìm cùng làng khắp xóm. Nhưng của đã mất làm sao tìm lại một
cách dễ dàng như vậy được. Buổi tối hôm đó, má nó ngồi lặng lẽ nhìn ra sân, chắt lưỡi
thở dài thườn thượt, lưng như cong xuống. Buồn như ánh trăng già vàng vọt, méo xệch,
đang rọi sáng một góc trước sân nhà. Chỉ có cây Ngọc Lan vẫn vô tình lãng đãng phảng
phất hương thơm trước nhà.

       Thưởng là thằng bạn tôi mới quen sau ngày Sài Gòn thay tên. Một buổi chiều mấy
đứa con trai trong xóm chia phe đá banh. Một đứa có vẻ là dân mới, lừa banh nhanh như
dân chơi bài tráo, banh vào chân nó thì đứa giữ gôn có thể chuẩn bị chui vào khung mà
lượm banh. Tôi bực. Và tìm cách “đốn” giò nó. Cũng vì nó nhanh như sóc, tôi đốn trật,
nhằm bụng nó mà búa một cú như trời giáng. Thế là trận đá banh hôm đó bị gián đoạn,
nó bị loại ra khỏi vòng chiến và ngồi dựa cái gò mối bên cạnh miếng đất trống mà rên hừ
hừ. Nó và tôi thành bạn sau trận đá banh đó, và chẳng bao lâu trở thành bạn thân. Mới
quen, nhưng như là hai đứa bạn đã quen từ nhỏ, chia nhau từng hột muối (nó không
thích đồ ngọt nên có cục kẹo nào là tôi hưởng hết). Nó kể, “Ba má tao, ngày xưa hai ông
bà thương nhau, ông bà nội – là địa chủ loại gộc ở vùng Cai Lậy, Mỹ Tho – không đồng
ý cuộc tình đó vì chuyện môn đăng hộ đối.  Hai ông bà trốn nhà đi, dắt díu nhau lên Sài
Gòn sinh sống. Cuối cùng thì ông bà nội phải chịu thua và cho người đi tìm về làm đám
cưới cho hai người”. Chuyện bọn trẻ thương nhau, bỏ nhà đi, thì xảy ra hà rằm - nói
theo kiểu mấy bà già miền Tây - có gì mà lạ. Đứa con đầu lòng, hai ông bà dự tính sẽ đặt
tên “Thương”, như để nhắc nhở cái tình yêu hai người dành cho nhau và cũng để đánh
dấu cuộc tình khó khăn ấy. Ngày thằng nhỏ chào đời, ba nó đi làm xa, phải nhờ một
người bà con đi làm giấy khai sanh. Không biết ông ta uống vào mấy xị trước khi đến
Hội Đồng Xã mà cái tên Thương của nó lại có thêm cái dấu hỏi to tướng trên tờ giấy
khai sanh. Ba nó đi về thấy thằng con trai được đặt tên Thưởng, ông cũng cười, dễ dãi
nựng nịu thằng con mà nói rằng đó là phần thưởng của ông Trời. Cuối cùng thì ông Trời
còn thương nhiều hơn nữa, thưởng nhà nó thêm… tám đứa. Gia đình chín đứa con nên
ba má nó mới tất bật vất vả như vậy, nhất là sau năm bảy mươi lăm. Lo cho cái ăn cái
mặc còn chưa đủ, làm sao có thể lo hết chuyện học hành cho tất cả mấy đứa con.

       Một tuần sau ngày chiếc xe mọc cánh, buổi sáng, thằng nhỏ con của ông trưởng ấp
dẫn hai con bò đi ngang, chạy thẳng vào nhà Thưởng. Chẳng thèm gõ cửa, nó hô: “Anh
Thưởng ơi, ba em nói mấy ông trong xã kêu anh trưa nay tới nói chuyện gì đó, hình như
là chuyện chiếc xe đạp”. Chuyện quan trọng như vậy mà nó làm như chuyện chơi. Nói
xong, thằng nhỏ chạy vèo ra cửa, nhảy lên lưng bò đi thẳng. Má Thưởng vừa mừng vừa
lo, không biết chuyện gì đã xảy ra cho chiếc xe đạp.

       Ngày hai mươi bảy Tết, ông nào còn làm việc. Nó cảm thấy hơi lạ nhưng cũng nghỉ
một ngày đi rẫy để vào văn phòng xã. Tết nhất đến nơi, nghỉ sớm một ngày cũng chẳng
chết ai. Trời chỉ mới quá trưa khi nó vào đến nơi. Văn phòng vắng teo, chỉ có hai người
đàn ông và một giọng hát. Giọng hát vọng cổ của một cô đào cấp huyện nào đó, lanh
lảnh phát ra từ cái đài nằm trên bàn. Nếu không biết trước thì không thể nào nghĩ căn
nhà đó là văn phòng của xã. Căn nhà lợp mái tranh, vách bằng những ống tre đập dập
được kết lại bằng dây mây rừng, với hai cái bàn bằng gỗ tạp. Hai người đàn ông có vẻ
mặt mệt nhọc như người thiếu giấc ngủ trưa. Anh thường trực ngồi ở chiếc bàn phía
ngoài lên tiếng hỏi, mắt vẫn không rời cuốn truyện bằng tranh trên tay:

- Có việc gì?

- Dạ chuyện chiếc xe đạp …

- Xe đạp gì? Anh nói rõ hơn được không! – Anh ta cắt ngang, không để Thưởng nói hết
câu, giọng pha nửa Trung nửa Nam..

- Dạ, nhà tôi bị mất chiếc xe đạp cũ tuần trước…

- À… tui biết rồi. Giấy tờ xe đâu?

- Dạ xe cũ của ông nội tôi cho đã hơn mười năm, không còn giấy tờ.

- Vậy năm bảy lăm anh không đến xã đăng ký xe à? Làm sao tụi tui biết là xe nào của
anh? Xe anh màu gì? Tui biết là xe đạp thì không có số… máy, nhưng anh có biết số
sườn là số mấy không? - Anh ta lý sự và nói một tràng như một đứa học trò đang trả bài,
cặp mắt đảo lên đảo xuống giữa cuốn truyện và khuôn mặt của Thưởng.

       Mặt anh ta nghiêm đến khiếp. Trời đất, thằng bạn tôi hai chân tuy đụng đất nhưng
cái đầu thường lơ lững trên mây, nhớ nhớ quên quên. Ngay cả cái bộ xương sườn của nó
dù đã mang kè kè bên người mấy chục năm, nó còn chưa biết số mấy thì làm sao biết
được số sườn của chiếc xe đạp cũ mèm bám đầy đất đỏ.

- Gia đình tôi vừa mới về đây năm trước, không biết chuyện đăng ký. Xe tróc hết sơn,
chỉ còn màu … đất đỏ! Số sườn, tôi cũng không biết. Xe cũ lắm anh ạ, tôi nghĩ chắc
cũng không còn thấy số - Thưởng thấy chiếc xe dựng ở vách sau rất giống xe của nhà
nó, nhưng không dám chỉ.

- Anh này hay! Anh giỡn mặt với tui hả! Anh đi tìm cái xe bị mất, đã không có giấy tờ
xe, không biết số sườn số máy, lại còn dám “tôi nghĩ tôi nghĩ!” Anh nghĩ gì kệ anh, còn
tui thì nghĩ là nếu anh không có bằng cớ thì tui sẽ giữ chiếc  xe lại làm xe công.
Anh ta nói chắc như đinh đóng cột. Mặc dù nghĩ chắc anh ta đang dọa, xe của nó mà làm
xe công thì chỉ có mang họa, nhưng Thưởng cũng đủ xanh mặt. Hay là bị nó đến phá
giấc ngủ trưa nên anh ta quạu chăng. Nó năn nỉ:

- Dạ anh thông cảm, nhà tôi chỉ có duy nhất chiếc xe đó. Đi thăm lúa, thồ đậu thồ bắp,
hay đưa đón hai đứa em gái đi học cũng nhờ nó. Đường sình lầy mùa mưa, đi bộ năm
bảy cây số, anh biết, khổ lắm. Tội nghiệp mấy đứa nhỏ. Xin anh giúp cho một lần. Lúc
nhà tôi mất xe, làng xóm ai cũng biết…

- Tui không có thời giờ để hỏi hàng xóm của anh. Đó cũng không phải là bằng chứng là
chiếc xe nào của anh.

- Ah, tôi có thể cho anh biết đặc điểm xe được không? Trong cái cốt yên có một miếng
chêm bằng nhôm, dài khoảng ba phân. Bánh xe trước vá bốn lỗ, còn ruột xe sau màu đỏ,
nối hai khúc…

       Thưởng đưa ra một loạt đặc điểm của chiếc xe và cũng nói chắc …như đinh đóng
cột. Anh ta đột nhiên tỏ ra thân thiện hơn và đổi đề tài:

- Anh ăn cơm chưa?

- Dạ, lúc nãy ở nhà có ăn tạm… mấy củ khoai.

- Anh này hay! Tui hỏi anh ăn cơm, sao lại trả lời khoai! Hay là ta đi kiếm cái gì ăn một
chút. Qua quán bên kia đường nghe.

       Đi ngang qua mặt người đồng nghiệp, anh ta gõ nhẹ trên bàn và đi thẳng ra cửa.
Nhìn xéo bên kia đường, quả nhiên Thưởng thấy một quán ăn, đó cũng là một tiệm tạp
hóa. Thưởng và người đồng nghiệp của anh ta cùng đi qua quán đó. Thức ăn được dọn
xong, thấy hai người họ ực chung rượu đế bốn chục độ, vừa nhăn mặt vừa khè ra khói,
mà đâm thèm. Tiếc là nó không chịu được rượu mạnh. Chỉ có ba miếng khô lóc nướng,
một dĩa nấm rơm xào tỏi và một tô mì gói mà họ ngồi với nhau đến gần năm giờ chiều.
Nó có biết là nhậu với mì gói mà “bắt” đến như vậy đâu! Đã qua đến xị thứ tư, cả hai có
vẻ thấm hơi men, mặt càng ngày càng xanh, nhưng vẫn ăn uống cười nói với nhau đủ
chuyện và tuyệt đối không đả động gì đến chuyện chiếc xe đạp. Tô mì gói và dĩa nấm
xào đã sạch, dĩa khô cũng chỉ còn lại mấy miếng xương. Bất chợt anh ta quay lại Thưởng:

- Tui đi về văn phòng làm thủ tục cho anh lấy xe nghe. Năm phút nữa anh qua lấy xe về,
nghe chưa!

       Hai người nhân viên xã chân đông chân tây trở về văn phòng của họ. Thưởng
không thấy anh ta trả tiền, chắc là khách quen của quán. Thưởng liếc nhìn bà chủ quán
và gật đầu chào trước khi rời bàn.

- Cậu ơi, cậu trả giùm tiền ăn – bà chủ quán lễ phép nhắc.

Thưởng xanh mặt thật sự. Tiền đâu mà trả.

- Dạ cháu không có sẵn tiền thím ơi.

       Bà chủ quán chìa ra một cuốn tập học trò, cũng dính đầy đất đỏ, bên trong chữ viết
và ký tên chằng chịt. Đó là lần đầu tiên nó ký sổ ăn chịu. Nghĩ đến mấy đứa em ở nhà
mà trong lòng xót xa như bụng đói mà ăn một rổ khế chua.

       Về đến văn phòng xã, Thưởng thấy anh ta đang cặm cụi viết. Chờ đến năm phút
sau, liếc nhìn qua tờ giấy, anh ta chỉ mới “bò” được hai dòng, chữ viết chậm mà vẫn
nguệch ngoạc. Kiểu này thì không biết đến bao giờ mới xong tờ chứng nhận. Thưởng đề
nghị, “Hay là để tôi viết vài dòng là đã nhận xe và ký tên, anh chỉ cần đọc lại và xác nhận
giùm là được”. Thủ tục làm giấy để nhận lại chiếc xe chỉ có bấy nhiêu. Anh ta cũng
không kiểm tra lại, không cần mở cái cốt yên xe hay tháo ruột xe ra xem Thưởng nói có
đúng hay không. Chiếc xe đạp dựng ở vách sau của văn phòng đúng là chiếc xe của
Thưởng.

                                                            ***

       Đầu óc như đang lơ lững trên mây vì vừa tìm lại được chiếc xe đạp, đến một ngã ba
nó lờ mờ thấy cái bóng của một vật gì vừa từ ngã ba phóng ra. Con đường đang xuống
dốc và chiếc xe cũng không còn thắng, nó chỉ biết lách nhanh về phía trái để tránh.
Tránh được chiếc xe vừa đâm ra, nhưng chiếc xe nó sụp xuống một ổ gà lớn nằm ở giữa
đường. Chiếc xe lộn một vòng và hất thằng Thưởng vào bụi cỏ bên đường. Chẳng may
cho nó, một tảng đá lớn đã nằm chờ sẵn sau bụi cỏ, có lẽ từ ngày mấy ông lính Công
Binh người Úc đến ủi đất để làm thành con đường đó từ những năm sáu mươi. Nó chỉ
kịp nhìn thấy khuôn mặt của một cô gái, thanh thoát với cặp mắt ướt và đen, và nhớ lờ
mờ lúc đó nghe một giọng nói của một cô gái Bắc, ngọt lịm và … đúng chuẩn. Tôi bái
thằng Thưởng làm thầy về cái biệt tài này, trước khi… nhắm mắt mà nó vẫn còn có đủ
thời giờ - và tinh thần - để quan sát bấy nhiêu thứ!

       Mở mắt dậy vào sáng sớm hôm sau, nó thấy chung quanh giường có gần đủ mặt
mọi người thân thuộc: má, ba đứa em gái, và dĩ nhiên tôi. Không biết bằng cách nào mà
cô gái lôi thằng Thưởng được tới bệnh xá. Quần áo tay chân nó bê bết bụi, đất đỏ, và
mấy vết trầy, như một con gà trống vừa đá xong một trận chí mạng. Cái băng trên đầu
nó trước đó có lẽ là màu trắng bây giờ đã ngả sang màu cháo vịt. Đó là một bệnh xá
nghèo, chỉ có một cái giường, một băng gỗ dài, cái tủ gỗ đựng lung tung đủ thứ - toàn
những thứ … không cần thiết - và một cái bàn con. Ông y sĩ … trụ trì ở đó cũng thuộc
hạng bất đắc dĩ. Trước đây ông ta là y tá ở một bệnh viện tỉnh, sau năm bảy mươi lăm
đến vùng này sinh sống và tự cho mình lên bậc y sĩ. Làm y sĩ ở một xã nghèo, lương ba
cọc ba đồng nên nghề chính của ông cũng là nghề làm rẫy như mọi người, chỉ hành nghề
thuốc khi nào có người bị trầy chân sứt trán đến gõ cửa trạm xá. Đúng là “họa vô đơn
chí”, ngày hôm đó ông y sĩ không biết đi đâu đến bốn giờ sáng mới về đến nhà. Chính cô
gái là người đã thoa thuốc đỏ và băng vết thương cho Thưởng sau khi lôi nó đến đó. Lúc
nó tỉnh dậy thì cô gái đã bỏ đi mất từ lúc nào.  Nhỏ em đưa cho nó một tờ giấy lịch có
mấy hàng chữ: “Chú gì đó, xin lỗi chú đã làm xe chú hư. Không có tiền ở đây để đền.
Mà, thật ra cũng không phải lỗi của em, phải không?” Nét chữ tròn, thật đẹp, và rất là …
con gái. Nhưng sao có người lại nói chuyện huề tiền đến như vậy không biết. Nếu không
có lỗi thì sao lại phải xin. Mà lại còn ghi lại địa chỉ nhà, trong phần tái bút, nói rằng nếu
có dịp ghé lại thì cô ta sẽ bồi thường cho cái bánh xe. Nhà cô gái chắc là khó tìm, địa chỉ
có đến hai ba cái gạch, ở Sài Gòn. Nghĩ cho cùng, cô gái nói chuyện ỡm ờ kiểu này thì
bố bảo cũng chả dám đến nhà đòi cái bánh xe bị cong đó.

       Cho đến mãi sau này, mỗi lần nhắc đến chuyện té xe, chính thằng Thưởng cũng
không biết rõ tại sao nó ngất xỉu. Thủ phạm là tảng đá núp sau bụi cỏ? Hay là vì hai bàn
tay vừa mềm vừa lạnh ngắt của cô gái, ôm chặt khuôn mặt nó mà lay mà lắc vì sợ nó
chết, “Chú ơi chú, làm ơn đừng chết nghe chú!”. Cũng có thể nó chết giấc vì cặp mắt
vừa đen vừa ướt, và cái giọng nói vừa ấm vừa ngọt lịm đó – ngay cả trong lúc hốt hoảng
– cũng không chừng. Nó cứ khen cô gái có gương mặt sáng như trăng rằm và cặp mắt
đẹp… mê hồn, có thể làm người ta chết cạn lúc nào không hay. Không biết đã có người
nào khác chết chưa, chứ nó thì tôi biết là đã chết hết phân nửa là cái chắc. Tôi cứ chọc,
con nhỏ gương mặt tròn như trăng mười sáu thì có, làm gì sáng như trăng!


       
Từ đó nó không còn gặp người con gái trở về cái làng quê đó nữa.

                                                            ***

   Kể từ ngày thằng Thưởng bị tai nạn, không biết bao nhiêu nước đã chảy qua dưới
chân cầu vắt ngang con rạch nơi gia đình Thưởng ở. Cuộc sống đẩy đưa, mấy năm sau
cả Thưởng lẫn tôi không còn ở với gia đình ở cái xóm nhỏ, xa xôi đó. Mỗi đứa đi mỗi
nơi. Mỗi lần gió Tết về lại nhớ nhà, nhớ quê. Những năm xưa đó, gió Tết ít mang lại
niềm vui. Ba nó mất đi cũng vào một ngày mùng bốn Tết, lặng lẽ, và dễ dàng như một
người xách giỏ đi chợ. Mùng một Tết năm đó, lần đầu tiên nó có được chút tiền để mừng
tuổi ba, chỉ có vài đồng “để ba hút thuốc”, nhưng trong lòng cứ cảm thấy sung sướng
mãi. Khi gió bấc đến, khi mà nội đưa cái rổ nhựa nhắc nó ra ngắt lá Mai trước nhà, là
những lúc nhớ nhà không tưởng được.

   Nó nhớ đồng, nhớ quê. Nhớ cái xứ sở nghèo nàn, mùa hè bụi phủ đến ngập đầu,
nhưng chỉ cần vài trận mưa rào đất lại dẽo ra như nếp nhão. Hình ảnh người mẹ, cặp mắt
ngấn nước ngồi nhìn đứa con gái lớn lội sình cõng đứa em út đi học mẫu giáo. Ra đến
nơi con nhỏ khóc như mưa bấc, không chịu ở lại học, lại phải khom lưng cõng về. Chỉ là
những kỷ niệm vụn vặt, nhưng vẫn còn nằm gọn trong ký ức nó. Người cha già trước
tuổi, ốm nhom và đen thui vì phải học làm nghề mới trên đám rẫy nhà. Thằng em trai
chưa đến mười bốn tuổi, trước giờ chẳng biết đốn cây làm rẫy là gì, cởi trần đi làm, đến
chiều về nhà da nóng đỏ như con tôm luộc. Đến mùa thu hoạch, mấy đứa em có ngày bỏ
học đi theo lũ trẻ trong xóm đi mót bắp, lúa hay khoai, như một đám cừu non đi tìm chút
cỏ già còn sót lại trên mấy cánh đồng, từ sáng đến tối mù mới về đến nhà. Một giai đoạn
của cuộc đời chỉ có vài ba năm mà có bao nhiêu là chuyện để nhớ. Nhớ cả căn nhà trống
trước hở sau, thoang thoảng mùi hương bông chanh trộn lẫn với hương Ngọc Lan của
những đêm trăng sáng. Thiếu thốn đến tột cùng, nhưng với nó, căn nhà đó mang điều gì
thiêng liêng lắm, vì lúc nào cũng chất đầy cái ấm áp của sự sum vầy.

       Vừa ăn xong cái Tết năm đó, má nó bị bệnh khá nặng. Sau một đêm nằm ở bệnh
viện tỉnh, mấy ông bác sĩ khuyên nên đưa bà cụ về bệnh viện Nguyễn Trãi với lý do là
bệnh viện nhỏ không có đủ thuốc men và dụng cụ, và có lẽ thiếu cả bác sĩ chuyên khoa.
Bệnh tim, mà lại lao lực quá, có thể “đi” bất cứ lúc nào.

       Một buổi sáng, ông bác sĩ trưởng đến thăm bệnh nhân cùng với ba người bác sĩ trẻ,
có lẽ là sinh viên khoa y đang thực tập. Nhóm bác sĩ rời phòng sau khi xem hồ sơ bệnh
án và thăm bệnh cho các bệnh nhân trong phòng. Cô thực tập sinh trong nhóm, có mái
tóc dài quá lưng và ốm như cây sậy vùng Đồng Tháp, nhìn Thưởng, gật đầu chào và
cười mỉm. Thưởng không hiểu nụ cười đó, cảm thấy lạ. Nhìn ánh mắt của cô thực tập
trẻ, nó bối rối, và sửng lại một chút. Không thể nào lại giống như vậy được!
Ngày hôm sau, cô thực tập sinh trở lại phòng bệnh nhân. Khám qua loa cho má nó một
chút (không biết cô này có quyền khám cho bệnh nhân không nữa!), hỏi vài câu lấy lệ,
cô ta xoay qua Thưởng, chìa ra một chiếc xe đạp kẹp trong tập hồ sơ. Chiếc xe bằng giấy
carton có tô màu đỏ hẳn hòi. Cũng vẫn nụ cười giống như hôm qua:

- Gửi lại chú cái xe.

       Lần này thì không chạy vào đâu được. Chắc chắn như vậy. Thưởng nhớ ngay cô
gái này là ai. Cô ta tiếp:

- Hôm nay bà cụ trông khỏe đi nhiều lắm, chừng hai ngày nữa là ông thầy tôi cho về.
Biết ngay là chú không sao. Chắc chú không còn ở trên đó nữa? Trông chú có vẻ khác đi.

- Dạ, cô nói trên nào? Trước giờ tôi ở dưới đất, chưa lên trời bao giờ!

- Chú dở hơi! Hồ sơ của bác là do em theo dõi; địa chỉ của bác nằm sờ sờ trong đó kìa.
Đầu chú hôm ấy, tưởng là té nhẹ không sao, ai dè... – cô gái cười có vẻ đắc chí, con mắt
có đuôi.

- Ủa, bố ở nhà thứ mấy? Té một cái muốn nín thở, tôi quên mất là có bà con với cô.

- Tôi mà biết anh ba trợn như vậy, hừ, hôm ấy thay vì thoa thuốc sát trùng tôi nhét vào
một nắm đất trước khi băng cho anh, thử xem ai bị nhiễm trùng cho biết!

   Trời ơi, bác sĩ mà nói chuyện kiểu này với bệnh nhân thì có bị thương nặng đến mấy
nó thà lấy bẹ chuối mà bó còn an toàn hơn. Con nhỏ xem ra cũng thuộc hàng không chịu
thua ai, đanh đá không thua gì nhỏ em gái nó. Nhưng nhờ cô ta mà bà cụ được chăm sóc
chu đáo, tận tình trong mấy ngày còn ở lại bệnh viện, và qua được cơn hiểm nghèo.

   Mấy ngày sau, Thưởng tìm đến nhà cô bác sĩ tương lai theo địa chỉ mà cô ta để lại
mấy năm trước trên tờ giấy lịch, mang theo một gói bánh để cảm ơn cô đã tận tâm chăm
sóc cho bà cụ trong thời gian ở bệnh viện. Đi đến gần khu phố và nhất là đến đầu ngõ
hẻm dẫn vào nhà cô gái, nó giật mình. Nó không xa lạ gì cái xóm đạo đông đúc này, sau
nhiều năm vẫn không thay đổi bao nhiêu. Pha trà và mở gói bánh của Thưởng mang
đến, cô nhỏ vui vẻ, cười duyên:

- Trà số một của bố đó, anh thử đi, ngon lắm. Anh bày đặt quá, sinh viên nghèo không
biết lo thân!

- Có gì đâu, tôi hy vọng mang gói bánh đến... để đổi cái bánh xe.

- Anh dai như đỉa! Hôm trước đã trả anh nguyên cái xe rồi còn gì.

Hình như khi gặp Thưởng không mắng mỏ thì hôm đó ăn cơm không ngon nên cô ta
phải tìm cách mắng một câu cho bằng được. Thưởng cười:

- Hôm đó tại sao cô lại đi lạc đến cái xứ khỉ không dám ho, gà sợ gáy đó vậy?

- Đi tiếp tế Tết cho người em họ của bố. Năm nào bố em cũng đi một lần, nhưng gặp lúc
bố không khoẻ, ông anh đi thay. Em chỉ xin đi theo chơi cho biết đồng quê thôi.

- May là ngày đó chiếc xe cô lái không phải là xe mười bánh!

Thưởng đổi đề tài:

- Tưởng nhà cô ở đâu xa, chứ khu này tôi biết rõ như mấy cái chỉ tay của mình. Nói cô
là láng giềng cũng không sai bao nhiêu.

- Anh lại phịa nữa phải không? – cô ta nheo mắt, dò xét.

- Sao lúc nào cũng cho là người khác xạo thế kia! Lúc khoảng mười ba, mười bốn tuổi,
có nhiều hôm má sai đi chợ, con trai treo trên xe cái giỏ ra chợ, mắc cỡ, nhưng cũng phải
đi. Cái chợ nhỏ nhóm gần nhà thờ kia kìa, ai xạo.

- Thật?

- Sao không! Có hôm còn bị mấy đứa ở xóm này tưởng là dân cư xá thứ thiệt, bị tụi nó
rượt chạy vắt giò.

- Ahh..., hèn chi có lần nghe hai ông anh nói là vừa rượt một đứa trong cư xá chạy có
cờ. Hóa ra “đứa” đó là anh. Em mà biết, chạy ra rượt phụ cũng không chừng.
Cô ta cười ngoặt ngoẹo, đắc thắng. Mấy ông anh chắc cũng thuộc loại phá làng phá xóm,
có đứa em đanh đá như vậy cũng chẳng có gì lạ.

       Những chuyện trên trời dưới đất như vậy mà nói đến hàng giờ vẫn chưa hết. Nhắc
đến chuyện chiếc xe đạp bị mất, Thưởng cũng không còn cảm giác ấm ức. Thời gian có
thể giúp cho người ta quên đi nhiều thứ. Cô bạn chỉ lắc đầu cười. Vừa rồi, Thưởng nghe
má kể lại, “cái anh trong xã” đã bị cho nghỉ việc, không còn làm mưa làm gió ở cái góc
nhỏ của anh. Cô vợ trẻ của anh không chịu nổi những trận đòn vô cớ sau mỗi lần ông
chồng say xỉn, cũng đã bỏ xứ đi biệt tích.

       Mùa mưa năm đó, nó và Hoài trở về thăm lại làng quê đó. Hình như là vào lúc mấy
cơn mưa đầu mùa vừa ghé lại. Chim chóc rộn rã gọi nhau về hát líu lo trên cành.  Lần
đầu tiên Hoài nhìn thấy Phong Lan tím rực rỡ trên mấy nhánh cây rừng, Hoài cứ xuýt
xoa sao mà đẹp ngẩn ngơ! Nhớ hoài hình ảnh cô bạn xách dép, xăn quần lội qua con suối
đi vào thăm miếng ruộng rộng “đến” ba sào mà Thưởng đã tự tay khai phá mấy năm
trước.  Con suối hôm đó dường như trong hơn.  


       
Và thương hoài cảnh con nhỏ ngồi trên bờ đê thọc chân khuấy nước.

                                                            ***

       Trong cuộc đời cũng có nhiều cuộc gặp gỡ có thể được xem là duyên số như vậy.  
Cứ gặp một lần rồi chẳng bao giờ quên được.  Và cứ ngỡ là sẽ chẳng bao giờ gặp lại.
Thằng bạn nối khố của tôi có cùng đi với người con gái đó suốt quãng đường hay chỉ đi
với nhau một đoạn đường ngắn, chuyện này ít quan trọng.  Câu chuyện có thể được kết
thúc ở đây và cũng có thể xem là có hậu lắm rồi. Chuyện mất xe của thằng Thưởng vào
cái Tết năm đó đã đi theo tôi cho đến bây giờ.  Nó làm tôi liên tưởng đến chuyện Tái
Ông mất ngựa mà hầu như ở xứ mình ai cũng biết, và nghiệm ra một điều.  Rõ ràng cô
vợ trẻ của “cái anh trong xã” quyết định ca bài một đi không trở lại chẳng bao giờ trở về
cái xã nghèo nàn và bừa bộn đó, đừng nói đến chuyện trở về với ba cô vợ khác.  Anh ta
được gần rượu hơn một chút.  Còn chiếc xe đạp chắp cánh bay ngày nào cũng không
dẫn về hai chiếc xe khác, mà chỉ làm nó tốn một bữa ăn vô lý và một đêm nằm đãi muỗi
ở bệnh xá.  Nhưng Thưởng đã được thứ khác quý giá gấp bao nhiêu lần. Cái ổ gà, tảng
đá ven đường, và cái bánh xe cong ở ngã ba chiều tối hôm đó đã dẫn nó đến một ngã tư
khác để được gặp người con gái có gương mặt thanh thoát và cặp mắt có thể làm cho
người ta chết cạn đó.

       Năm cuối cùng học ở Nguyễn Du, có một lần thầy Long đến dạy lớp tôi. Thầy vừa
giảng vừa đi tới đi lui, và cuối cùng đi… luôn ra ngoài đề.  Thay vì phải giảng về loại văn
học mới, kiểu chuyện chị Dậu phải bán đi cả con và cái ổ chó để có tiền nộp suất sưu
(tiểu thuyết “
Tắt Đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố) thì thầy lại lim dim thả hồn theo mấy
khổ thơ của Xuân Diệu.  Người thầy dạy Triết có cái dáng đi thong thả như “trôi vào
lớp” (1) hôm đó có nhắc đến một danh ngôn: “
Hạnh phúc như một cái chăn hẹp, hãy
kín đầu thì hở chân
”.  Cũng như cuộc đời của thằng Thưởng.  Và của bao nhiêu người
khác.

       Nhưng, kín đầu thì chắc là ngộp lắm.  
       
Thế, bạn chọn phần nào, kín chân hay hở đầu?


    Thuyên Ly
    15 Tháng Giêng 2008


(1) Thầy Trần Đình Mậu, Thư Ngỏ, ĐS Ngày Hội Ngộ (2006).